Hiện thực hóa giấc mơ đại điền để sản xuất chuỗi lúa gạo sạch công nghệ cao

Khởi nghiệp sau 20 năm, Cty CP Nông nghiệp công nghệ cao Trung An (Cần Thơ) đang hiện thực hóa giấc mơ đại điền. Cơ giới hóa đồng bộ tất cả các khâu SX lúa. Mô hình này trở thành bước ngoặt trong SX lúa gạo theo chuỗi giá trị, kiểm soát chất lượng đạt tiêu chuẩn gạo sạch với thương hiệu gạo Trung An.


Cơ giới hóa 100%

Khởi nghiệp năm 1996, Cty TNHH Trung An chuyên SX kinh doanh lúa gạo từ qui mô nhỏ đi lên. Đến năm 2005, khi chủ trương mở ra cho DN tư nhân đủ điều kiện xuất khẩu (XK), Trung An mở rộng thị trường tiêu thụ và nhanh chóng trở thành một trong những DN có sản lượng XK gạo lớn ở ĐBSCL.

Đặc biệt, sau 5 năm liền tham gia chương trình liên kết nông dân SX trên cánh đồng lớn (CĐL) thành công, năm 2015 đánh dấu bước chuyển tiếp giai đoạn mới đầu tư trực tiếp vào lĩnh vực nông nghiệp, đổi tên gọi mới - Cty CP Nông nghiệp công nghệ cao Trung An.

 Từ Cần Thơ chúng tôi mất gần nửa ngày đường hết đi xe ô tô theo quốc lộ 91, chuyển sang đi vỏ lãi chạy theo các con kênh Tám Ngàn thẳng tắp nối qua kênh T5 vùng Tứ Giác Long Xuyên. Đến CĐL Trung An rộng 760 ha nằm giữa đồng sâu tại xã Bình Giang, huyện Hòn Đất, một khung trời mới đồng ruộng bao la.

 Trung An vừa hoàn thiện đầu tư hạ tầng, xây dựng xong nhà điều hành SX, hệ thống trạm bơm điện và chỉnh trang đồng ruộng, phân thành mỗi ô thửa rộng 3-4 ha được giới hạn bởi các bờ bao và kênh nội đồng ngang dọc. Năm nay vẫn không có lũ nên xem như vắng mùa nước nổi, nông dân Hòn Đất vào vụ gieo cấy lúa ĐX sớm.

 Trong khi Trung An bố trí SX phân ra từng khu vực với các ô thửa nối tiếp liên hoàn theo từng giai đoạn: Từ đồng lúa còn xanh nối tiếp đồng lúa đang làm đòng trổ bông đến đồng lúa đang thu hoạch vừa xong… Máy cày, máy cấy, máy gặt chạy xuôi ngược như con thoi trên đồng.

 Ông Phạm Hữu Sáu – Quản lý CĐL Hòn Đất của Cty Trung An cho rằng: Muốn SX qui mô lớn trên CĐL phải có máy móc thay sức người và chỉ có cơ giới hóa, chuyển đổi cách làm mới để chinh phục đất phèn nặng vùng này. Hồi trước đây đất này từng trồng mía. Cây mía giỏi chịu khô cằn, phèn chua vậy mà khó phát triển, không hiệu quả. Từ khi chuyển sang trồng lúa, đưa cơ giới hóa vào tất cả các khâu SX đã kích được năng suất vượt lên, kiểm soát chất lượng đảm bảo sạch, an toàn.

 Nhìn rõ lợi ích

 Trải qua 17 tháng mở đất, Trung An hoàn thành xây dựng cơ sở hạ tầng và trang bị đủ các loại máy móc cơ giới từ khâu làm đất đến thu hoạch với tổng vốn đầu tư hơn 90 tỷ đồng. Trong đó tính riêng chi phí dựng tường rào đan kín bằng tôm fibro xi măng chạy dài trên 13 km bao quanh CĐL, Trung An đã tốn kinh phí 1,2 tỷ đồng.

Chỉ riêng việc dựng tường rào cái lợi trước mắt thấy rõ. Ông Sáu kể: "Vùng đất này chuột sinh sôi kinh khủng. Trồng lúa trên CĐL không diệt được chuột coi như thua. Chúng tôi đối phó nạn “giặc chuột” bằng cách dựng tường rào ngăn chuột, bắt chuột. Trên CĐL Hòn Đất này nếu chỉ sau mỗi vụ lúa bị chuột cắn phá làm thiệt hại 10%. Tính năng suất bình quân trên 5 tấn/ha đã giảm được thất thoát 250 tấn/vụ.

Hoặc như riêng việc chuyển sang dùng máy cấy thay cho khâu gieo sạ để lúa dễ chăm sóc, ít sâu bệnh. Lượng giống gieo sạ giảm từ 110-120 kg/ha xuống còn 50-60 kg/ha. Hiệu năng hoạt động của 4 máy cấy, công suất cấy 4 ha/máy/ngày.

Trong khi nhân công cấy lúa 1 công/người/ngày phải cần tới 10 nhân công/ha chi phí trên 4 triệu đồng/ha. Đó là chưa nói đến khó huy động được thợ cấy và chậm tiến độ xuống giống đồng loạt rất nhiều…”. Quả là chỉ còn cách đầu tư cơ giới hóa mới có thể SX lúa lớn, thực hiện quản lý qui trình SX có kiểm soát, hạn chế tối đa sử dụng phân bón, thuốc BVTV.

Thực tế sau 2 vụ lúa HT và TĐ vừa qua, CĐL Trung An đạt năng suất bình quân trên 5,6-6 tấn/ha. Trong khi nhân sự vận hành trên CĐL của Trung An chỉ có 63 lao động làm việc thường xuyên, trong đó có 4 kỹ sư nông nghiệp, lương bình quân 5-12 triệu đồng/người/tháng.

 Bài toán chuỗi SX gạo sạch

 Vì sao từ một DN chuyên kinh doanh XK lúa gạo Trung An đầu tư mạnh vào nông nghiệp? Ông Phạm Thái Bình, Tổng giám đốc Cty CP Nông nghiệp công nghệ cao Trung An, lý giải: Năm 2011 Trung An đã bắt tay liên kết với nông dân SX lúa trên CĐL và mở rộng đến nay gần 7.000 ha SX lúa theo tiêu chuẩn sạch VietGAP.

Từ mô hình CĐL thành công, tôi nghĩ nông nghiệp Việt Nam phải có sự đầu tư bài bản để thực sự nâng cao giá trị. Vừa qua nhà nước chủ trương quyết tâm tái cấu trúc ngành nông nghiệp, khuyến khích DN và ưu đãi đầu tư. Đó là định hướng lớn, còn vấn đề chính DN phải tự làm.

Trung An nhận thấy đã đến lúc hội tụ đủ điều kiện nên bắt tay xây dựng CĐL tại Hòn Đất bằng cách thuê đất dài hạn (50 năm) và bỏ vốn đầu tư. Trung An đang áp dụng 100% cơ giới hóa các khâu SX trên CĐL là nhằm thực hiện qui trình SX lúa gạo được kiểm soát chất lượng chặt chẽ, nhất là lúa nguyên liệu ngay từ khâu đầu vào.

 Ông Bình phân tích: “Sau 5 năm đầu tham XK gạo trực tiếp, nhận diện thị trường tôi nghĩ cần phải SX gạo sạch, xây dựng thương hiệu mang tên Trung An. Tôi quan niệm nếu có sự can thiệp từ nguồn vốn đầu tư vào nông nghiệp, thoát cách làm theo kiểu truyền thống, đầu tư công nghệ cao để nâng cao giá trị nông phẩm. Nghĩa là chấp nhận đầu tư lớn với công nghệ tiên tiến là biết tính toán để hạ giá thành SX”.

Qua kiểm chứng cơ giới hóa SX lúa trên CĐL tại Hòn Đất năng suất lúa vụ ĐX vừa qua cao hơn ruộng lúa đối chứng bên ngoài 2 tấn/ha. Vụ ĐX sắp tới có khả năng tăng lên 8 tấn/ha. So sánh chi phí SX của nông dân bên ngoài 23 triệu đồng/ha, nếu áp dụng cơ giới hóa đồng bộ tại CĐL Trung An chi phí chỉ 16 triệu đồng/ha.

Mức chênh lệch 7 triệu đồng/ha tính ra hơn 1 tấn lúa/ha. Nếu tính 2 vụ trong năm cộng thêm lợi nhuận trồng lúa đạt được khoảng 30 triệu đồng/ha, SX lúa đại điền trên 1.000 ha, lãi gộp từ trồng lúa khoảng 30 tỷ đồng, tương đương 1,5 triệu USD. Trung An dự tính trong 5 năm sẽ thu hồi vốn dự án CĐL ở Hòn Đất, nhưng SX đạt hiệu quả khả quan thế này thời gian thu hồi vốn có thể sớm hơn.

Trên đà tiến triển SX lúa trên CĐL, ông Bình nhận định: “SX nông nghiệp trên CĐL là xu hướng tất yếu để thực hiện cơ giới hóa đồng ruộng. Nếu nhà nước chủ trương tích tụ ruộng đất, điều đó quá tốt cho DN để có thể tỏa sức đầu tư SX qui mô lớn từ A đến Z”.

Cty Trung An hiện có 6 khu nhà kho diện tích 60.000m2, sức chứa đạt 90.000 tấn gạo. Các khu nhà kho đều có trang bị, lắp đặt đầy đủ máy sấy lúa, xay xát, lau bóng, tách màu, đóng gói gạo với công nghệ tiên tiến.

Năng lực SX lúa 400.000 tấn/năm, chế biến 1.000 tấn gạo/ngày; năng lực chế biến 24.000 tấn gạo/tháng và cung cấp ra thị trường 300.000 tấn gạo/năm. Để hoàn thiện chuỗi SX lúa gạo, Cty Trung An đang đầu tư trên 3 triệu USD xây dựng hệ thống 10 silo (30.000 tấn) trữ lúa để giữ mùi thơm cho hạt gạo; đồng thời trong 3 năm tới Trung An có kế hoạch mở rộng liên kết SX lúa trên CĐL để đạt 100% lúa nguyên liệu chất lượng cao.

Nguồn NongNghiep.vn

Nâng cao giá trị và thương hiệu lúa gạo Việt Nam

Tại hội thảo “Nâng cao giá trị và thương hiệu lúa gạo Việt Nam” do Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) tổ chức tại Tp.Hồ Chí Minh ngày 11/11, các chuyên gia cho rằng, việc nâng cao chất lượng đang là vấn đề cấp bách nhất hiện nay của ngành lúa gạo Việt Nam, nhất là trong bối cảnh xuất khẩu gạo liên tục sụt giảm trong những năm gần đây.

Ông Huỳnh Thế Năng, Chủ tịch VFA cho biết, xuất khẩu gạo Việt Nam hiện đang đứng trước quá nhiều thách thức. Tính đến tháng 10/2016, xuất khẩu gạo cả nước đạt 4,2 triệu tấn, trị giá 1,9 tỷ USD, giảm 21,2 % về lượng và 16,9% về giá trị so với cùng kỳ năm 2015. Sự mở rộng, gia tăng sản lượng nguồn cung và sự đa dạng hóa sản phẩm đang khiến cạnh trạnh trên trường quốc tế ngày càng gay gắt. Chỉ tính riêng 9 tháng năm 2016, xuất khẩu gạo sang các thị trường nhập khẩu chính của Việt Nam đã giảm mạnh, như Philippines giảm 66,4%, Malaysia giảm 54,8%, Trung Quốc giảm 21,6%....


Không những thế, nhu cầu thị trường trong nước và quốc tế ngày càng đòi hỏi gạo chất lượng cao, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm. Trong khi đó, nhiều vựa lúa của cả nước, đặc biệt như vùng Đồng bằng Sông Cửu Long đang phải chịu tác động nặng nề của biến đổi khí hậu, khiến xâm nhập mặt đi sâu vào đất liền.

Cũng theo ông Huỳnh Thế Năng, trong bối cảnh thị trường có nhiều biến động thế nhưng chất lượng gạo vẫn chưa được quan tâm đúng mức. Nhiều loại gạo xuất khẩu bị hoàn trả do tồn dư vượt mức dư lượng thuốc bảo vệ thực vật. Do vậy, cần cân đối sản lượng lúa gạo hàng hóa phù hợp với nhu cầu tiêu thụ của thị trường, hướng đến mục tiêu định dạng lại sản lượng xuất khẩu theo hướng chất lượng cao đạt 2-3 triệu tấn/năm thay vì chỉ tập trung vào số lượng đạt 7-8 triệu tấn/năm như trước đây.

Các chuyên gia cho rằng, nếu không nâng cao được chất lượng gạo Việt đáp ứng những tiêu chuẩn quốc tế thì sẽ không thể xây dựng thương hiệu gạo quốc gia. Đây là một trong những yêu cầu cấp bách đối với ngành xuất khẩu gạo Việt Nam hiện nay.
Theo đó, một trong những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng gạo được nhiều đại biểu đồng tình, đó là áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất lúa gạo.

Ông Bùi Chí Bửu, nguyên Viện trưởng Viện khoa học kỹ thuật nông nghiệp miền Nam cho rằng, so với các nước như Ấn Độ, Thái Lan, đầu tư vào khoa học nông nghiệp của Việt Nam còn thấp. Tăng cường đầu tư vào nghiên cứu khoa học công nghiệp nhằm tạo ra nền nông nghiệp thông minh là “chìa khóa” để nâng cao chất lượng gạo Việt.

Theo ông Lê Văn Bảnh, Cục trưởng Cục Chế biến nông lâm thủy sản và nghề muối, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, hiện nay Bộ đã có những chính sách và chủ trương xây dựng cánh đồng mẫu lớn, xây dựng vùng nguyên liệu lúa gạo nhằm đáp ứng nhu cầu của xuất khẩu cả về số lượng và chất lượng. Bên cạnh đó, Bộ cũng đề ra chủ trương và chiến lược nâng cao chuỗi giá trị lúa gạo bền vững bằng các chính sách phát triển chọn tạo giống chất lượng cao, phát triển công nghệ sau thu hoạch và công nghệ bảo quản lúa hiện đại./.

Nguồn Mard.gov.vn

Ngã rẽ nào cho lúa gạo Việt Nam?

Lý giải tại sao Việt Nam xuất khẩu gạo phần lớn vẫn là phân khúc thị trường gạo cấp thấp, ông Nguyễn Như Cường, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt cho biết, Thái Lan có cả phân khúc thị trường gạo cao cấp và phân khúc cấp thấp. Nhưng ở Thái Lan hay Campuchia, gạo cao cấp là từ loại lúa một vụ/năm, trong khi đó Việt Nam sản xuất các giống lúa ngắn ngày, năng suất cao. Nếu tính thu nhập trên 1 đơn vị diện tích Việt Nam chưa chắc kém Thái Lan và Campuchia.

Cùng chung quan điểm với ông Cường, ông Lê Huy Hàm, Viện trưởng Viện Di truyền nông nghiệp Việt Nam chỉ ra năng suất lúa của Thái Lan trung bình chỉ 3,5 tấn/ha và trồng 1 vụ/năm, còn Việt Nam năng suất lúa 5,6-5,7 tấn/ha và trồng 2 vụ/năm. Như vậy, với giá gạo Việt Nam bán được bằng một nửa so với Thái Lan thì về thu nhập không thấp hơn. Bên cạnh đó, Thái Lan có 11 triệu ha đất lúa, cung cấp cho 60 triệu dân; Việt Nam có khoảng 4 triệu ha đất lúa cung cấp lương thực cho 90 triệu dân.


 “Thời gian vừa qua chúng ta chọn tạo giống lúa theo hướng là tăng năng suất, ít chú ý, thậm chí là không cho phép chú ý đến chất lượng bởi vì phải đảm bảo an ninh lương thực là yếu tố đầu tiên. Lúa gạo Việt Nam được chú ý về chất lượng chỉ từ sau những năm 2000”, ông Hàm so sánh.

Nhìn thẳng vào thực tại khi ngay cả những vùng sản xuất lúa gạo cho xuất khẩu nhưng nông dân vẫn nghèo, ông Trịnh Khắc Quang, Quyền Giám đốc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam cho rằng, sản xuất lúa gạo Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn ngoài hiệu quả sản xuất còn thấp, còn do biến đổi khí hậu.

 Hiện cơ cấu giống lúa ở một số vùng không còn thích hợp để tiếp tục duy trì phát triển. Việt Nam xuất khẩu nhiều nhưng thị trường xuất khẩu chưa ổn định, các thị trường khó tính chưa vào được nhiều, chủ yếu vẫn là thị trường châu Á, châu Phi.  Từ cách xây dựng chất lượng, thương hiệu hạt gạo của Thái Lan, ông Lê Huy Hàm cho hay, Thái Lan không tạo ra giống mới mà họ trồng những giống lúa được trồng từ cách đây hàng trăm năm đã trồng. Thái Lan đi theo hướng, giống yếu mặt nào thì cải tiến mặt đó.

 Trong khi đó, Việt Nam ngày càng tạo ra nhiều giống mới. Nhiều doanh nghiệp ngày càng quan tâm đầu tư nghiên cứu chọn tạo các giống lúa mới. Tuy nhiên, khi đưa giống mới vào sản xuất, đương nhiên sẽ phủ nhận giống cũ. Điều này dẫn đến việc khó xây dựng thương hiệu nếu liên tục đưa ra giống mới.

Nhận thấy điều đó, Viện Di truyền nông nghiệp Việt Nam đang hình thành chiến lược mới. Đó là không tạo ra các giống chịu mặn, chịu ngập… mới mà tận dụng những giống lúa đã có thương hiệu, những giống lúa được người dân chấp nhận và được trồng phổ biến. Nhưng các giống đó có nhược điểm như không kháng mặn, không chịu ngập, dễ nhiễm bệnh đạo ôn, bệnh bạc lá…

 Trên cơ sở những giống này sẽ cải tiến những đặc tính đó nhưng giữ nguyên những đặc tính nông sinh học của hạt lúa để giữ chất lượng gạo. Như vậy, thương hiệu gạo, thương hiệu giống trên thị trường không thay đổi.  “Đây là chiến lược tạo giống mới, là yếu tố ứng phó với biến đổi khí hậu. Các giống mới được gọi là giống kháng đa yếu tố cần thiết để ứng phó với biến đổi khí hậu”, ông Lê Huy Hàm nói.

Cũng theo ông Hàm, từ trên đặc điểm về địa lý tự nhiên, xã hội, các nhà kinh tế, hoạch định chính sách cần chỉ ra được lợi thể để Việt Nam phát huy, không dứt khoát phải có nhiều gạo trên thị trường như Mỹ, châu Âu…

Thái Lan và Việt Nam là hai nền sản xuất rất khác nhau từ điều kiện tự nhiên, xã hội. Do đó, chúng ta phải chọn ngã rẽ cho lúa gạo Việt Nam sẽ là hợp lý hơn so với việc cứ xông vào cạnh tranh ở bất kỳ thị trường nào. Sau gần 2 năm xây dựng, Đề án tái cấu trúc ngành hàng lúa gạo Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 mới đây đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt.

Đề án xác định không chỉ nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh lúa gạo mà còn bảo vệ môi trường sinh thái, thích ứng với biến đổi khí hậu. Mục tiêu cụ thể đến năm 2020 của Đề án là tổ chức sản xuất, chế biến và phân phối các sản phẩm gạo trắng, gạo thơm và đặc sản; phấn đấu đạt 20% sản lượng gạo xuất khẩu mang thương hiệu "Gạo Việt Nam".

Đồng thời, quảng bá, giới thiệu thương hiệu rộng rãi trong nước và đến ít nhất 20 thị trường xuất khẩu.  Ông Trịnh Khắc Quang đánh giá, thương hiệu là một vấn đề quan trọng phải làm. Nhưng thương hiệu đó cần gắn liền vùng trồng, gắn liền với giống, với doanh nghiệp để sản xuất ra gạo được gắn với thương hiệu đó.

Bên cạnh đó, cần duy trì chất lượng, giảm giá thành sản xuất, tạo được sự tín nhiệm của gạo Việt Nam trên thị trường trong nước và xuất khẩu. Đó là mấu chốt quan trọng nhất song song với thương hiệu.

Theo Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Lê Quốc Doanh, thực hiện Đề án tái cấu trúc ngành hàng lúa gạo Việt Nam, ngành nông nghiệp đã đưa ra hệ thống các gói giải pháp từ khâu cải tiến bộ giống đến hình thành gói kỹ thuật và các điều kiện hạ tầng, đặc biệt là cơ giới hóa trong sản xuất, bảo quản, chế biến và sản xuất theo chuỗi.

Đồng thời, định dạng các thị trường xuất khẩu lúa gạo Việt Nam, từ đó xác định các giống phù hợp cho từng thị trường, phân khúc từng thị trường lúa gạo.

“Trước mắt phải tập trung đẩy mạnh nghiên cứu bộ giống có chất lượng và nghiên cứu gói kỹ thuật sản xuất lúa cho từng vùng cụ thể theo hướng giảm chi phí như: không lãng phí phân bón, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật hiệu quả; giảm lượng giống sử dụng. Điều này vừa giúp giảm chi phí, nâng cao chất lượng gạo vừa giúp bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu”, Thứ trưởng Lê Quốc Doanh nói./.

Bích Hồng - VOV

Tìm giải pháp căn cơ phát triển bền vững ngành hàng lúa gạo

Ngày (15/3), Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc tới dự và trực tiếp chỉ đạo Hội nghị giải pháp phát triển bền vững ngành hàng lúa gạo vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) tại An Giang. Tham dự Hội nghị có đại diện lãnh đạo các Bộ, ngành và các địa phương trong vùng, các Hiệp hội, Hội, các nhà khoa học và nhất là các doanh nghiệp, đại diện các Hợp tác xã, hộ nông dân hưởng ứng và tham dự đông đủ.


Phát biểu tại hội nghị, Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường đánh giá, sản xuất lúa gạo ở vùng ĐBSCL có vai trò rất quan trọng, góp phần phát triển kinh tế của vùng và của cả nước, đảm bảo an ninh lương thực, ổn định chính trị, xã hội, góp phần xoá đói, giảm nghèo cho người dân trong vùng. Sau 30 năm đổi mới, cùng với sự phát triển và những thành tựu to lớn trong lĩnh vực nông nghiệp, nông dân, nông thôn, sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất lúa gạo nói riêng ở vùng ĐBSCL đã góp phần quan trọng đưa nước ta từ một nước thiếu ăn, đói nghèo, phải nhập khẩu lương thực trở thành một cường quốc xuất khẩu lương thực, riêng ĐBSCL đã đóng góp trên 90% lượng gạo xuất khẩu của toàn quốc.

Theo Bộ trưởng, ĐBSCL không chỉ có lợi thế về điều kiện tự nhiên như đất đai bằng phẳng, màu mỡ và diện tích lớn (với gần 2 triệu ha đất lúa và 4 triệu ha gieo trồng), nguồn nước dồi dào do có dòng sông Cửu Long chi phối mà người dân vùng ĐBSCL cũng có truyền thống, kinh nghiệm sản xuất lúa lâu đời, luôn tiên phong trong ứng dụng tiến bộ kỹ thuật canh tác tiên tiến và cơ giới hoá nông nghiệp. Đây chính là tiềm năng, là động lực phát triển sản xuất lúa gạo nói riêng và sản xuất nông nghiệp nói chung của cả vùng.

Tuy nhiên, thực tiễn đang diễn ra trong những năm qua cho thấy ngành hàng lúa gạo đã và đang đối mặt với những thách thức to lớn, đe dọa tới sự phát triển bền vững, sự sống còn của một ngành hàng gắn bó với hàng chục triệu người dân. Tác động của Biến đổi khí hậu, khô hạn, nước biển dâng, xâm nhập mặn, lũ lụt đã hiện hữu và xảy ra nhanh hơn, mạnh hơn so với kịch bản mà chúng ta đã dự đoán, cùng với đó là sự thay đổi căn bản về nguồn nước ở thượng nguồn sông Mê Kông do hoạt động kinh tế của các quốc gia đầu nguồn. Những hạn chế trong nội tại của ngành cũng làm giảm năng lực cạnh tranh, chưa tạo được vị thế vững chắc của hạt gạo Việt trên thương trường, các vấn đề về khoa học công nghệ, chọn tạo và sản xuất giống lúa, các quy trình canh tác tổng hợp và trên hết đó là hiệu quả của sản xuất thấp. Nông dân sản xuất lúa gạo của ĐBSCL vẫn nghèo do hiệu quả kinh tế, thu nhập từ sản xuất lúa gạo còn thấp, người sản xuất được hưởng lợi nhuận thấp nhất trong chuỗi sản xuất lúa gạo. Vấn đề tổ chức sản xuất và liên kết theo chuỗi khép kín vẫn còn nhiều bất cập, chưa tạo ra được bước thay đổi căn bản để đảm bảo sự phát triển bền vững; chưa giảm được mức độ sử dụng tài nguyên và nguồn vật tư đầu vào, đặc biệt là tài nguyên nước và hoá chất. Vấn đề cạnh tranh quốc tế về thị trường lúa gạo, an toàn thực phẩm cũng đang là bài toán lớn đặt ra cho ngành hàng lúa gạo nước ta.

Mặc dù có những tồn tại và thách thức lớn, sản xuất lúa gạo vẫn là thế mạnh của vùng ĐBSCL, vẫn là ngành hàng có nhiều thời cơ do nhu cầu tiêu thụ lúa gạo trên thế giới vẫn tiếp tục tăng 70% so với hiện nay để nuôi sống 9 tỷ người vào năm 2050, trong đó một nửa dân số coi gạo là lương thực chính.

Nhân dịp này, Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường bày tỏ cảm ơn Chính Phủ và cá nhân Thủ tướng Chính phủ dành sự quan tâm đặc biệt tới sản xuất nông nghiệp, nông thôn và nông dân, tới sản xuất lúa gạo vùng đồng bằng sông Cửu Long và đã tham dự, trực tiếp chỉ đạo chức Hội nghị quan trọng này. “Đây là dịp để chúng ta cùng nhìn nhận lại một cách đầy đủ hơn những thành tựu và nguyên nhân, bài học kinh nghiệm, nhất là những tồn tại, hạn chế, thách thức để từ đó xác định giải pháp căn cơ trước mắt cũng như lâu dài phát triển bền vững ngành hàng lúa gạo ở vùng đồng bằng sông Cửu Long” – Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường nhấn mạnh./.

Theo mard.gov.vn

Quảng Bình: Nhiều giống lúa mới cho năng suất cao

Huyện Lệ Thủy là địa phương có diện tích lúa lớn nhất của tỉnh Quảng Bình. Ðể nâng cao chất lượng lúa gạo, trong thời gian qua, huyện đã đưa nhiều giống lúa có năng suất, chất lượng cao vào sản xuất và hướng dẫn người dân nâng cao kỹ thuật canh tác. Vì thế, ngoài năng suất thì chất lượng lúa gạo cũng đã được nâng lên.


Thu hoạch lúa trên đồng ruộng Lệ Thủy

  Vụ Đông Xuân (ĐX) năm 2018-2019, toàn huyện Lệ Thủy gieo trồng 10.250ha lúa. Năng suất lúa bình quân đạt 69,2 tạ/ha, tăng 1,2 tạ/ha so với cùng kỳ; sản lượng đạt trên 70.915 tấn. Có 9 xã năng suất đạt từ 70 tạ/ha trở lên. Trong đó, 5 xã có năng suất đạt trên 75 tạ/ha, như: Hồng Thủy, Hoa Thủy, An Thủy, Phong Thủy, Lộc Thủy.

Để có được vụ mùa bội thu, bên cạnh việc ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, phòng trừ sâu bệnh, huyện Lệ Thủy đã quan tâm chú trọng công tác giống trên đồng ruộng. Các HTX trên địa bàn chủ động đưa các loại giống có năng suất, chất lượng cao, có thời gian sinh trưởng ngắn ngày vào sản xuất.

Liên tục trong nhiều năm, Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện Lệ Thủy đã chỉ đạo UBND các xã, thị trấn, các HTX triển khai kế hoạch thử nghiệm và nhân rộng các giống lúa chất lượng cao. Riêng trong vụ ĐX năm nay, Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện đã thực hiện khảo nghiệm 11 giống lúa với mục tiêu chọn được giống có khả năng chống chịu sâu bệnh, năng suất và chất lượng cao như: KH336, DT100, LY2099, QS33, QS88 và giống lúa lai. Kết quả cho thấy, các giống lúa mới triển khai đã thể hiện nhiều ưu điểm về khả năng chống chịu sâu bệnh, cho năng suất cao, chất lượng gạo ngon và đủ điều kiện để thay thế các loại giống đang xuống cấp, như: X21, Xi23, NX30, Nhị ưu 838. Từ hội thảo đầu bờ, mô hình khảo nghiệm huyện Lệ Thủy đã chọn được bộ giống lúa thích hợp.

Xuất phát từ công tác giống trên đồng ruộng, sản phẩm gạo huyện Lệ Thủy đã được người tiêu dùng trong và ngoài huyện quan tâm, tin dùng. Gạo P6, HT1, TBR225 bán được giá trên thị trường là tín hiệu vui của hạt gạo huyện Lệ Thủy.

Tuy nhiên, theo đánh giá của UBND huyện Lệ Thủy, sản xuất lúa thời gian qua vẫn chưa liên kết bền vững với doanh nghiệp bao tiêu sản phẩm đầu ra. Giá lúa đầu vụ không ổn định, ảnh hưởng đến thu nhập của  nông dân. Những năm tới, huyện Lệ Thủy tập trung quy hoạch các vùng sản xuất trên cánh đồng lớn, sử dụng giống lúa chất lượng cao theo hướng sạch, hữu cơ nhằm nâng cao giá trị trong sản xuất lúa. Huyện và các HTX nông nghiệp trên địa bàn tăng cường liên kết tiêu thụ sản phẩm lúa của nông dân; góp phần quản lý giá lúa đầu ra nhằm tạo động lực để nông dân nâng cao năng suất, chất lượng lúa thành phẩm.

Nâng cao hiệu quả của công tác giống trên đồng ruộng đi đôi với thực hiện các chính sách khuyến khích phát triển lúa chất lượng cao là yếu tố căn bản để thúc đẩy sản xuất, kết nối thị trường và tăng thu nhập cho người nông dân Lệ Thủy; góp phần tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững.


Nguồn: Mard.gov.vn

Lúa thơm Việt Nam sốt trên đất Thái, thị trường gạo thế giới vẫn khó lường

Tờ Bưu điện Bangkok vừa cho biết, giống lúa Jasmine 85 của Việt Nam hiện đang được nhiều nông dân ở tỉnh Nakhon Sawan, miền Bắc Thái Lan ưa chuộng do có nhiều đặc tính nổi trội hơn các giống lúa trong nước.
 

Biểu đồ thị phần xuất khẩu gạo của Thái Lan trong hai năm vừa qua

 Đại diện Hội Nông dân Thái Lan, cho biết giống Jasmine 85 có tính kháng bệnh tốt, thời gian gieo trồng ngắn, chỉ khoảng 90 ngày so với 120 ngày của Thái và chất lượng gạo không hề thua kém. Điều quan trọng nhất là về giá khi hiện đã có những đơn vị cung cấp giống lúa Việt Nam cho nông dân Thái Lan xuống giống và hứa bao tiêu với giá 8.000 bạt/tấn, trong khi giống truyền thống của vùng này chỉ được đạt khoảng 6.000 bạt/tấn.

Trong diễn biến liên quan, Hiệp hội Các nhà xuất khẩu gạo Thái Lan vừa dự báo sẽ có thể xuất khẩu khoảng 9,5 triệu tấn gạo trong năm nay. Con số này thấp hơn 500 ngàn tấn so với các tính toán trước đó của Bộ Thương mại và giảm lượng gạo xuất khẩu khoảng 1,6 triệu tấn so với năm 2018.

Cơ sở của dự báo mới từ các nhà xuất khẩu căn cứ trên tỷ giá đồng bạt Thái vẫn đang mạnh lên so với đồng đô la Mỹ và đặc biệt là sự cạnh tranh thị phần rất gắt gao từ hai đối thủ lớn trong lĩnh vực xuất khẩu lương thực là Việt Nam và Ấn Độ. Ông Charoen Laothammatas, Chủ tịch Hiệp hội Xuất khẩu gạo Thái Lan cho biết,  trong năm nay chỉ đặt mục tiêu mang về 4,8 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu gạo, tuy nhiên con số này cũng là một thách thức.

Theo con số thống kê, năm 2018 Thái Lan xuất khẩu được 11,09 triệu tấn gạo các loại, giảm 5% so với năm 2017 là 11,67 triệu tấn và cao hơn năm 2016, chỉ đạt có 9,91 triệu tấn. Tuy nhiên kim ngạch xuất khẩu gạo của nước này trong năm ngoái lại tăng tới 8,3%, đạt 5,61 tỷ USD, cao hơn năm 2017, đạt 5,18 tỷ USD, trong khi năm 2016 là 4,40 tỷ USD. Nguyên nhân là do giá gạo trung bình xuất khẩu của năm ngoái đạt 507 USD/tấn, tăng tới 14,1% so với năm 2017 do đẩy nhanh các giống gạo chất lượng cao để tăng sức cạnh tranh.

Xét về thị trường xuất khẩu cụ thể của năm 2018 gồm có 5,49 triệu tấn gạo (tăng 17,4% so với cùng kỳ), trong đó gồm 2,71 triệu tấn gạo đồ (giảm 19,9%); gạo thơm  hom mali đạt 1,27 triệu tấn (giảm 22,1%); gạo tấm đạt 390 ngàn tấn (giảm 0,7%); gạo tấm thơm đạt 380 ngàn tấn (giảm 43,2%); gạo nếp đạt 180 ngàn tấn (giảm 15,7%). Do đó, năm nay các nhà xuất khẩu chỉ dự báo đạt 4,8 triệu tấn gồm 2,4 triệu tấn gạo đồ và 1,3 triệu tấn gạo thơm hom mali và khoảng 400 ngàn tấn gạo nếp…

Theo nongnghiep.vn

Xuất khẩu gạo khởi sắc trở lại

Sau một thời gian trầm lắng, XK gạo đã bắt đầu lạc quan hơn khi có những hợp đồng xuất sang Iraq, Malaysia… Các doanh nhân ngành gạo đang kỳ vọng bước sang quý 2, thị trường XK gạo sẽ trở nên sôi động hơn.


Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), những ngày đầu tháng 3 đã ghi nhận nhu cầu NK gạo đang trở lại trên thị trường, với thỏa thuận giữa Việt Nam - Iraq, Malaysia và Cuba (đang đàm phán) cũng như một số nhu cầu mới từ Trung Quốc với hạn ngạch NK 5 triệu tấn gạo sẽ sớm được xác nhận (con số này hàng năm vào khoảng 5,32 triệu tấn gạo).

Trong đó, Việt Nam đã ký hợp đồng bán cho Iraq 120 ngàn tấn gạo. Năm 2018, Iraq đã NK 300 ngàn tấn gạo thơm (gạo trộn). Trên cơ sở đó, một số doanh nhân ngành gạo dự báo trong năm 2019, Iraq cũng sẽ nhập một lượng gạo tương đương và Việt Nam sẽ hưởng lợi nhờ giá cạnh tranh. Giao dịch nói trên cũng cho thấy Iraq đang dành mối quan tâm cho gạo Việt Nam trong năm nay.

Cơ quan Thu mua Lương thực Malaysia (Bernas) cũng đã ký hợp đồng NK 25 ngàn tấn gạo trắng 5% tấm từ Việt Nam với nhà cung cấp là TCty Lương thực Miền Bắc. Bernas yêu cầu phía Việt Nam thực hiện giao hàng nhanh đối với các hợp đồng này nhằm đảm bảo gạo cung cấp là nguồn gạo từ vụ đông xuân.

Các DN Việt Nam hiện cũng đang tích cực thương thảo với các nhà NK đến từ Phililppines, Trung Quốc… Với giá gạo XK loại 5% tấm vào đầu tháng 3 là 340 USD/tấn, gạo Việt Nam đang có lợi thế cạnh tranh nhất so với các nguồn cung chính khác. Cụ thể, vào ngày 1/3, giá gạo 5% tấm của Ấn Độ là 370 USD/tấn, Pakistan 360 USD/tấn…; gạo 100%B của Thái Lan là 388 USD/tấn. Tới giữa tháng 3, giá gạo 5% tấm của Việt Nam đã tăng lên ở mức khoảng 340-350 USD/tấn, nhưng vẫn rất cạnh tranh so với các nguồn cung khác.

Tuy nhiên, do những hợp đồng trước đó DN Việt Nam đã ký với giá thấp, nên đã ảnh hưởng ít nhiều tới tiến độ ký những hợp đồng XK mới. Ông Lâm Anh Tuấn, GĐ Cty TNHH Thịnh Phát (Bến Tre), cho hay, đã có nhiều khách hàng nước ngoài sang Việt Nam tìm kiếm hợp đồng mua gạo, nhưng do trước đó, giá gạo trong một số hợp đồng đã ký khá thấp, nhất là so với giá giao dịch hiện tại, nên họ vẫn còn nghe ngóng, chờ đợi. Trong khi đó, do giá lúa ở ĐBSCL tăng bởi tác động của chương trình tạm trữ, nhiều DN đã bị lỗ do đã lỡ ký hợp đồng XK gạo với giá thấp.

Trước tình hình đó, các DN XK gạo đang đặt kỳ vọng nhiều hơn vào quý 2. Ông Phâm Thái Bình, TGĐ Cty CP Nông nghiệp Công nghệ cao Trung An (Cần Thơ), cho rằng, sang quý 2, nhiều nước sẽ phải mua gạo trở lại như Trung Quốc, Philippines… Khi ấy, thị trường gạo sẽ sôi động hơn so với hiện nay.

Theo VFA, Việt Nam cũng đang chờ đến quý 2 để có thể ký được hợp đồng XK gạo sang Hàn Quốc theo hình thức hạn ngạch thuế quan (TRQ). Năm ngoái, cũng vào quý 2, Việt Nam đã ký được hợp đồng XK gạo sang Hàn Quốc theo hạn ngạch TRQ và đã cung cấp được hơn 113 ngàn tấn cho nước này.

Ngoài các thị trường chủ lực nói trên, Việt Nam cũng đang đẩy mạnh tìm kiếm các thị trường khác. Một trong những thị trường nhiều triển vọng là Arab Saudi. Với dân số hơn 33 triệu người, Arab Saudi là một thị trường đáng kể và do điều kiện tự nhiên, nước này lại phụ thuộc hoàn toàn vào gạo NK. Năm ngoái, lượng gạo tiêu thụ ở Arab Saudi là 1,27 triệu tấn.

Trong đó, Ấn Độ là nước cung cấp gạo lớn nhất cho Arab Saudi khi chiếm 79%, tiếp đó là Mỹ (6%), Pakistan (6%), Thái Lan (5%), Việt Nam (2%). Năm ngoái, Việt Nam đã XK 14 ngàn tấn gạo thơm và 8 ngàn tấn gạo trắng sang Arab Saudi và đang tăng dần lượng gạo XK sang nước này.

Theo vaas.org.vn

Mở ra hướng đi mới cho sản xuất lúa gạo Thái Bình

Lễ khởi động giai đoạn I dự án “Sản xuất lúa bền vững và giảm phát thải khí nhà kính AgResults (AVERP)” do Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Thái Bình và Tổ chức phát triển Hà Lan (SNV) phối hợp tổ chức sáng 22/8.

Cấy lúa hàng rộng hàng hẹp là một trong những biện pháp giảm phát thải khí nhà kính

Sau 6 tháng công bố dự án "Sản xuất lúa bền vững và giảm phát thải khí nhà kính AgResults ở Thái Bình", Ban Quản lý dự án đã nỗ lực, tích cực phối hợp với các đơn vị liên quan xem xét, lựa chọn được 11 đơn vị tham gia dự án với mục tiêu tìm các giải pháp làm giảm khí phát thải nhà kính, tạo môi trường sản xuất nông nghiệp an toàn, bền vững. 11 doanh nghiệp với 11 giải pháp nông nghiệp bền vững đã được triển khai tại 11 xã trong tỉnh, bước đầu được đánh giá thực hiện theo đúng quy trình và tiến độ đăng ký với ban tổ chức.

Giai đoạn 1 của dự án gồm hai vụ thử nghiệm: vụ mùa năm 2017 và vụ xuân năm 2018. Những công nghệ hoặc phương pháp canh tác lúa được kiểm chứng và đạt hiệu quả cao nhất về giảm phát thải khí nhà kính và tăng năng suất sẽ được trao các giải thưởng sơ kết vụ 1 và giải tổng kết giai đoạn thử nghiệm vào cuối vụ 2. Các công nghệ đáp ứng hai tiêu chí giảm phát thải khí nhà kính và tăng năng suất nhưng chưa đạt giải cũng được chọn tham gia vào giai đoạn 2.

"Sản xuất nông nghiệp Thái Bình nói chung, sản xuất lúa gạo nói riêng vẫn còn tồn tại thực trạng nhỏ lẻ, chi phí vật tư đầu vào như phân bón, thuốc bảo vệ thực vật cao, thiếu tính bền vững. Chúng tôi đánh giá cao việc các doanh nghiệp tham gia cùng nông dân tìm hướng đi cho nông nghiệp sạch, kinh tế, bền vững", ông Nguyễn Hồng Sơn, Cục trưởng Cục Trồng trọt, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, cho biết.

Ông Nguyễn Hoàng Giang - Phó Chủ tịch UBND tỉnh khẳng định dự án “sản xuất lúa bền vững và giảm phát thải khí nhà kính” sẽ mở ra hướng đi mới cho nền sản xuất lúa gạo Thái Bình.

Ông Giang cũng cho biết Dự án sẽ tạo điều kiện để các tổ chức, cá nhân doanh nghiệp nghiên cứu thử nghiệm và nhân rộng các công nghệ, công cụ và phương pháp tiên tiến để giảm phát thải khí nhà kính, ứng phó với biến đổi khí hậu. Lãnh đạo tỉnh Thái Bình đề nghị Tổ chức Phát triển Hà Lan SNV cùng Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tích cực phối hợp nghiên cứu, hoàn thiện đưa dự án vào thực hiện, kêu gọi các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp đăng ký tham gia thử nghiệm Dự án.

Dự án "sản xuất lúa bền vững và giảm phát thải khí nhà kính AgResults" được xây dựng chia làm 2 giai đoạn với tổng kinh phí 122 triệu đô la Mỹ. Kết quả của dự án nhằm hỗ trợ phát triển sinh kế cho khoảng trên 75.000 nông hộ khu vực Đồng bằng Sông Hồng, giảm 375.000 tấn CO2 tương đương, giảm 15% chi phí cho các hộ nông hộ do sử dụng hiệu quả vật tư đầu vào và cuối cùng là đề xuất các phương pháp canh tác lúa giảm phát thải khí nhà kính bằng những biện pháp như dùng phân vi sinh, sử dụng công nghệ hiện đại, không đốt rơm v.v.

Theo nongnghiep.vn

Xuất khẩu gạo bắt đầu gặp khó do Trung Quốc tăng thuế

6 tháng đầu năm nay, xuất khẩu gạo diễn ra rất thuận lợi. Nhưng việc xuất khẩu (XK) gạo đang bắt đầu xuất hiện những khó khăn không nhỏ do thiếu nhu cầu từ thị trường và Trung Quốc đã điều chỉnh thuế nhập khẩu (NK) gạo lên từ 40 - 50%.

Nhu cầu yếu, giá giảm

Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, trong 6 tháng đầu năm nay, các doanh nghiệp đã XK được 3,288 triệu tấn gạo, đạt kim ngạch 1,609 tỷ USD. So với cùng kỳ năm ngoái, lượng gạo XK tăng 23,68% về lượng còn kim ngạch tăng tới 37,81%. Giá trị tăng cao hơn nhiều so với mức tăng của kim ngạch là nhờ giá gạo XK bình quân trong nửa đầu năm nay cao hơn tới 50,17 USD/tấn so với nửa đầu năm ngoái.

XK gạo trong 6 tháng qua diễn ra thuận lợi nhờ nhu cầu NK tăng cao ở nhiều thị trường quan trọng, nhất là các thị trường truyền thống của gạo Việt Nam như Indonesia, Philippines, Malaysia… Thống kê của Tổng cục Hải quan cho thấy, trong 6 tháng đầu năm nay, Indonesia đã NK từ Việt Nam 685.908 tấn gạo (tăng 4.397,76% so cùng kỳ năm ngoái), kim ngạch 322 triệu USD (tăng 5.914,67%); Philippines NK 384.146 tấn gạo (tăng 43,54%), kim ngạch 183,462 triệu USD (tăng 76,8%); Malaysia NK 304.178 tấn gạo (tăng 86,13%), kim ngạch 138,221 triệu USD (tăng 112,7%), Iraq NK 150.000 tấn gạo (tăng 120,51%), kim ngạch 85,56 triệu USD (tăng 153,54%)…

Tuy nhiên, từ tháng 7 này, XK gạo đã bắt đầu có những dấu hiệu khó khăn. Trước hết là bởi nhu cầu NK đã giảm đáng kể trên thị trường gạo toàn cầu trong bối cảnh nguồn cung lại đang vào thời điểm tăng lên ở nhiều nước XK quan trọng. Thông tin từ các nguồn tin quốc tế cho hay vào thời điểm này, một số nước NK quan trọng như Bangladesh, Sri Lanka đang không tham gia vào thị trường gạo, các nước châu Phi chỉ giao dịch những hợp đồng nhỏ, nhu cầu yếu từ các nước châu Á khác và khu vực Trung Đông… Trong khi đó, nguồn cung gạo ở Việt Nam đang tăng lên do thu hoạch vụ hè thu ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), Thái Lan cũng đang vào vụ thu hoạch với tín hiệu được mùa.

Những yếu tố trên cộng với đồng USD tăng đã gây sức ép làm giảm khá mạnh giá gạo XK, không chỉ ở Việt Nam mà ở cả các nước khác. Gạo 5% tấm của Thái Lan đã giảm xuống chỉ còn 375 USD/tấn, là mức giá thấp nhất kể từ tháng 11/2017. Gạo đồ 5% tấm của Ấn Độ hiện ở mức trên dưới 390 USD/tấn. Giá gạo XK loại 5% tấm của Việt Nam hiện cũng chỉ còn khoảng 390 USD/tấn. Giá gạo XK giảm mạnh khiến cho giá lúa gạo hàng hóa ở ĐBSCL cũng đã giảm khá nhiều. Giá lúa khô hạt dài hiện chỉ còn 6.100 - 6.200 đồng/kg, giảm 1.000 đồng/kg so với hồi cuối tháng 5.

Gặp khó vì Trung Quốc tăng thuế

6 tháng đầu năm nay, Trung Quốc tiếp tục là thị trường lớn nhất của gạo Việt Nam khi đã NK 891.688 tấn gạo, kim ngạch 474,835 triệu USD (chiếm 26% lượng gạo XK của Việt Nam).

Vừa qua, Trung Quốc đã điều chỉnh thuế NK gạo từ các nước Đông Nam Á. Theo đó, từ ngày 1/7, thuế NK với tất cả các loại gạo ở mức 40 - 50% (riêng tấm có thuế NK là 5%). Việc điều chỉnh thuế như trên của Trung Quốc đang gây thêm khó khăn cho XK gạo Việt Nam, nhất là với mặt hàng gạo nếp. Theo ước tính của các doanh nhân ngành lương thực, nếp chiếm tới 50% lượng gạo XK của Việt Nam sang Trung Quốc. Năm 2017, Trung Quốc chiếm tới khoảng 90% lượng gạo nếp XK của Việt Nam.

Theo Ths. Lê Thanh Tùng (Cục Trồng trọt), trong vụ đông xuân 2017/2018, các tỉnh ĐBSCL đã gieo trồng 157.798 ha lúa nếp (giảm 4,52% so vụ đông xuân 2016/2017). Với năng suất bình quân 7 tấn/ha, thì sản lượng lúa nếp đạt khoảng 1,1 triệu tấn, tương ứng với khoảng gần 700.000 tấn gạo nếp.

Nhìn lại XK gạo sang Trung Quốc trong 6 tháng đầu năm là 891.688 tấn, mà nếp chiếm tới 1 nửa thì sẽ vào khoảng trên 440.000 tấn. Như vậy, còn một lượng nếp không nhỏ cần tiếp tục được XK (đấy là chưa tính sản lượng gạo nếp từ vụ hè thu 2018), mà chủ yếu vẫn trông chờ vào thị trường Trung Quốc. Thế nhưng, do chính sách thuế mới của Trung Quốc, việc XK gạo nếp sang nước này kể từ đầu tháng 7 đến nay đang gặp phải khó khăn không nhỏ. Các DN chuyên XK gạo nếp sang Trung Quốc đang gần như không bán được hàng.

Ông Nguyễn Văn Đôn, Giám đốc Công ty TNHH Việt Hưng, cho biết, nếu không muốn phải chịu mức thuế NK mới, DN có thể mua hạn ngạch NK vào Trung Quốc (vì hạn ngạch thuế quan không bị điều chỉnh bởi chính sách thuế NK mới). Tuy nhiên, khi mua hạn ngạch NK, chi phí cho mỗi tấn gạo nếp XK sang Trung Quốc sẽ tăng khoảng 120 USD. Do đó, các nhà NK Trung Quốc (vốn vẫn còn một lượng gạo nếp tồn kho) đang mua khá ít hoặc chỉ mua với giá thấp.

Điều đó đã khiến cho giá gạo nếp XK của Việt Nam giảm rất mạnh, từ mức 530 - 540 USD/tấn hồi đầu năm nay xuống chỉ còn dưới 400 USD/tấn. Với mức giá này, các doanh nghiệp XK gạo nếp Việt Nam đang bị thua lỗ. Nhưng đáng lo ngại hơn là việc XK gạo nếp đang gần như bị ngưng trệ kể từ khi Trung Quốc đánh thuế NK gạo nếp lên tới 50%. Điều này có thể ảnh hưởng không nhỏ tới việc tiêu thụ lúa nếp của nông dân vụ hè thu 2018.

Theo Báo Nông nghiệp

Doanh nghiệp Trung Quốc đánh giá cao chất lượng gạo của Việt Nam

Ngày 7/5/2019, tại thành phố Cao Lãnh (tỉnh Đồng Tháp), Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Tháp – ông Phạm Thiện Nghĩa có buổi tiếp và làm việc với Đoàn công tác Bộ Công thương cùng với Đoàn doanh nghiệp nhập khẩu gạo của Trung Quốc.

Trưởng đoàn công tác là ông Trần Quốc Toản - Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu, Bộ Công Thương, cùng với Tham tán thương mại Đại sứ quán Việt Nam tại Trung Quốc, Hiệp hội Lương thực Trung Quốc và khoảng 15 doanh nghiệp nhập khẩu gạo tại các tỉnh: Quảng Đông, An Huy, Phúc Kiến, Chiết Giang và Sơn Tây của Trung Quốc.

Sự kiện này là cơ hội tốt để doanh nghiệp của Việt Nam và Trung Quốc tìm hiểu, trao đổi, thảo luận về nhu cầu, thị hiếu, chủng loại, chất lượng, giá cả sản phẩm gạo và các mặt hàng nông sản khác.


Phát biểu tại buổi làm việc, ông Phạm Thiện Nghĩa cho biết, năm 2018, lần đầu tiên kim ngạch xuất khẩu của tỉnh Đồng Tháp vượt mốc 01 tỷ USD, chủ yếu là hàng hoá nông, thuỷ sản. Trong đó, thị trường Trung Quốc luôn chiếm tỷ trọng cao trong tổng kim ngạch xuất khẩu. Ông cũng mong muốn các doanh nghiệp của Đồng Tháp nắm bắt cơ hội, tìm hiểu kỹ các nhu cầu mà các doanh nghiệp Trung Quốc cần, nhất là các yêu cầu về tiêu chuẩn kỹ thuật, quy định an toàn vệ sinh thực phẩm và các điều kiện về liên kết, vận chuyển, bảo quản và khai thông thị trường để tiến tới hợp tác. Nhấn mạnh chủ trương “Đồng hành cùng doanh nghiệp”, ông Phạm Thiện Nghĩa cam kết, Đồng Tháp sẽ tạo mọi điều kiện thuận lợi cho đối tác, nhà đầu tư và doanh nghiệp Trung Quốc khi đến hợp tác đầu tư tại địa phương.

Tại buổi làm việc, các doanh nghiệp Trung Quốc cũng đánh giá cao chất lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam và tác phong làm việc của các doanh nghiệp xuất khẩu gạo của tỉnh Đồng Tháp. Phía doanh nghiệp Trung Quốc cũng mong muốn, các doanh nghiệp xuất khẩu gạo Việt Nam có thể chủ động đến tham dự các kỳ hội chợ về xúc tiến thương mại của Chính phủ Trung Quốc để doanh nghiệp hai nước có nhiều cơ hội hợp tác hơn.

Thông tin thêm với Đoàn công tác, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Tháp, Phạm Thiện Nghĩa chia sẻ, với việc triển khai tái đề án cơ cầu ngành, Đồng Tháp đang phát triển ngành nông nghiệp theo hướng bền vững, chú trọng chất lượng. Đây là tiền đề để các doanh nghiệp có được vùng nguyên liệu an toàn được kiểm soát tốt về chất lượng để xuất khẩu.

Nguyễn Thị Bích Ngọc
TT Khuyến nông Đồng Tháp

Hà Giang: Phát triển chuỗi giá trị lúa gạo chất lượng cao giai đoạn 2019 – 2025

Nhằm nâng cao chất lượng lúa gạo có tính đặc sản của địa phương, vừa qua Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Giang đã tổ chức Hội thảo “Xây dựng kế hoạch phát triển chuỗi giá trị lúa gạo chất lượng cao tỉnh Hà Giang, giai đoạn 2019 – 2025”.

Hà Giang là một tỉnh miền núi biên giới phía Bắc, có địa hình chia cắt mạnh tạo nên các tiểu vùng khí hậu khác nhau, điều đó đã tạo cho Hà Giang nhiều giống lúa đặc sản có chất lượng cao, có thể kể tới như: giống lúa Khẩu Mang (huyện Đồng Văn), lúa tẻ Già Dui (huyện Xín Mần), nếp Nàng Hương (huyện Yên Minh)…


Các đại biểu tham quan mô hình khảo nghiệm giống lúa Khẩu Mang tại huyện Vị Xuyên
Tính đến thời điểm cuối năm 2018, tổng diện tích trồng lúa trên địa bàn Hà Giang đạt trên 37.500 ha và tổng sản lượng đạt trên 210.000 tấn. Các diện tích lúa của Hà Giang được tập trung gieo cấy tại các huyện Bắc Quang, Vị Xuyên, Quang Bình, Xín Mần, Bắc Mê, Hoàng Su Phì và Yên Minh. Tuy nhiên, trong những năm qua, quá trình canh tác lúa của Hà Giang vẫn phải dựa chủ yếu vào nguồn nước trời, nhất là tại các huyện vùng cao. Vì vậy, công tác triển khai lịch thời vụ gieo cấy gặp nhiều khó khăn. Bên cạnh đó, quá trình sản xuất các giống lúa chất lượng cao còn mang tính tự phát, nhỏ lẻ; quá trình đầu tư khoa học kỹ thuật đối với các giống lúa đặc sản của tỉnh còn nhiều hạn chế; thông tin về thị trường và doanh nghiệp tham gia liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm đối với các giống lúa đặc sản chất lượng cao chưa được phát triển….

Từ thực tiễn đó, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Giang đã giao cho Trung tâm Khoa học kỹ thuật Giống cây trồng của tỉnh triển khai Đề án “Xây dựng kế hoạch phát triển chuỗi giá trị lúa gạo chất lượng cao tỉnh Hà Giang, giai đoạn 2019 – 2025”. Đề án nhằm nâng cao giá trị thu nhập trên đơn vị diện tích đất canh tác, góp phần nâng cao thu nhập cho những người trồng lúa, nhất là các hộ nghèo và cận nghèo, phấn đấu đưa thu nhập của người trồng lúa đạt từ 90 – 100 triệu đồng/ha/năm vào năm 2025 và đáp ứng nhu cầu tiêu thụ của thị trường đối với các giống lúa chất lượng cao trong và ngoài tỉnh Hà Giang.

Để nâng cao Chuỗi giá trị lúa gạo chất lượng cao, giai đọan 2019 – 2025, các ngành chức năng của tỉnh Hà Giang đã đề ra nhiều giải pháp cụ thể như nâng cao năng lực và trình độ khoa học kỹ thuật cho người trồng lúa; tăng cường đầu tư các công trình thủy lợi nhất là các mô hình tưới tiêu có kiểm soát; đầu tư thiết bị, công nghệ chế biến và bảo quản sau thu hoạch; tiến hành đầu tư sản xuất lúa theo mô hình cánh đồng mẫu lớn theo tiêu chí “5 cùng” (cùng giống, cùng thời vụ, cùng chăm sóc, cùng phòng trừ sâu bệnh và cùng thu hoạch); tập trung quy hoạch sản xuất lúa chất lượng cao và hoàn chỉnh quy trình sản xuất giống; hướng tới xây dựng một tiêu chuẩn chung cho sản phẩm lúa gạo của tỉnh… Đây cũng là mục tiêu quan trọng trong chiến lược tái cơ cấu ngành nông nghiệp của tỉnh, tiến tới đưa các sản phẩm lúa gạo của tỉnh, nhất là các sản phẩm lúa gạo chất lượng cao trở thành hàng hóa.

Phạm Văn Phú
Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh Hà Giang

Lúa thơm trên vùng Kinh Bắc

Trung tâm Khuyến nông Bắc Ninh vừa tổ chức hội thảo đầu bờ đánh giá kết quả mô hình sản xuất giống lúa thơm HDT10 gắn với tiêu thụ sản phẩm tại xã Bình Bương, huyện Gia Bình.

Ngoài các đại biểu là đại diện Trung tâm KN tỉnh, Phòng Nông nghiệp, Trung tâm Dịch vụ nông nghiệp các huyện, thị xã, thành phố… còn có trên 150 hộ dân thực hiện mô hình tại huyện Gia Bình.

Các đại biểu đã được tham quan mô hình sản xuất giống lúa HDT10 với diện tích 10ha. Đây là giống lúa thuần chất lượng cao do Viện Cây lương thực và cây thực phẩm chọn tạo và đã chuyển giao bản quyền cho Công ty TNHH MTV Đầu tư và phát triển nông nghiệp Hà Nội độc quyền cung ứng. HDT10 là giống lúa cảm ôn thích hợp gieo cấy ở cả 2 vụ.

Qua theo dõi và đánh giá kết quả mô hình tại Bình Dương cho thấy giống lúa HDT10 được gieo vãi tập trung từ 08-10/2/2019, lúa trỗ tập trung từ 07-09/5/2019, lúa trỗ nhanh, thoát cổ bông. Cây sinh trưởng phát triển tốt, có bộ lá khỏe, đẻ nhánh khá, lá đòng đứng có mầu xanh đậm và bền, cứng cây chống đổ tốt, độ thuần giống cao, thời gian sinh trưởng trung bình từ 120-121 ngày, năng suất đạt trung bình 67,2 tạ/ha, so sánh với giống lúa Bắc thơm số 7 (làm đối chứng), giống HDT10 cao hơn khoảng 15,3 tạ/ha.

Tại hội nghị các đại biểu đã thảo luận và đều đánh giá cao về khả năng sinh trưởng, phát triển, khả năng chống chịu sâu bệnh (đặc biệt là kháng bệnh đạo ôn, bạc lá, và khô vằn hơn hẳn các giống khác) cũng như năng suất của giống lúa HDT10.

Cũng tại hội nghị các đại biểu đã được ăn thử cơm nấu bằng gạo HDT10 và đều nhận xét cơm ngon, dẻo, có mùi thơm nhẹ. Tại hội nghị này đại diện Công ty TNHH MTV Đầu tư và phát triển nông nghiệp Hà Nội đã có ý kiến sẽ thu mua toàn bộ thóc HDT10 của các hộ nông dân sau khi thóc đã khô.

Trong quá trình thảo luận, các đại biểu đã đưa ra một số đề nghị Trung tâm Khuyến nông tỉnh tiếp tục xây dựng mô hình sản xuất giống lúa HDT10 các vụ tới để theo dõi đánh giá chính xác hơn về tính thích ứng, khả năng chống chịu cũng như năng suất và chất lượng của giống trên địa bàn tỉnh; Công ty giống cung cấp đủ giống lúa và cam kết về chất lượng khi đưa giống vào sản xuất đại trà, đồng thời tiếp tục liên kết thu mua sản phẩm cho nông dân đảm bảo đầu ra ổn định để nông dân yên tâm sản xuất.

Đây là giống lúa có tiềm năng năng suất cao, chất lượng gạo tốt, chịu thâm canh, khả năng chống đổ và chống chịu sâu bệnh hại khá, cần tiếp tục theo dõi ở những vụ tiếp theo để có kết quả chính xác hơn.

Theo nongnghiep.vn

Thái Lan lo ngại gạo giá rẻ Trung Quốc

Các nhà xuất khẩu gạo Thái Lan đang phản ứng hết sức gay gắt sau khi biết tin Trung Quốc “phá bĩnh”  thị trường gạo xuất khẩu.
Theo tờ Bangkokpost, các doanh nghiệp xuất khẩu gạo của Trung Quốc đang cố gắng bán tháo gạo loại thường hoặc tồn kho với số lượng lớn của nước này đi các nước châu Phi.


Nguồn tin từ ông Chookiat Ophaswongse, Chủ tịch danh dự Hiệp hội xuất khẩu gạo Thái Lan cho hay, năm nay ước tính Trung Quốc sẽ đạt sản lượng 120 triệu tấn lương thực và dự kiến sẽ tăng cường xuất khẩu mặt hàng gạo có phẩm cấp thấp lên trên 3 triệu tấn đi thị trường châu Phi, so với khoảng 1,5- 2 triệu tấn như các năm trước đây.

Về giá, các nhà xuất khẩu Trung Quốc đang xuất bán đối với loại 5% tấm ở mức 300 USD/tấn (9.370 bạt), trong khi loại cùng phẩm cấp của Thái Lan hiện là 390 USD, Ấn Độ là 370 USD và Việt Nam là 360 USD/tấn.

Theo ông Chookiat, việc Trung Quốc bán gạo với giá rất thấp so với các nước, nhất là với Thái Lan sẽ khó lòng đạt mục tiêu xuất khẩu mặt hàng này trong năm nay vì không cạnh tranh nổi giá như Trung Quốc rao bán.


Mục tiêu xuất khẩu được lượng gạo dữ trữ tồn kho giá tốt bị đe dọa vì khó cạnh tranh
Năm ngoái, Thái Lan xuất khẩu tổng cộng 11,09 triệu tấn gạo, thấp hơn con số 11,67 triệu tấn của năm 2017. Tuy giảm 5% về lượng nhưng giá trị lại tăng 8,3%, đạt 5,61 tỷ USD so với 5,18 tỷ USD của năm 2017. Cụ thể, giá gạo xuất khẩu trung bình của nước này năm 2018 đạt 507 USD/tấn, tăng 14,1% so với năm 2017…

Dự tính, trong năm 2019, các nhà xuất khẩu gạo Thái Lan đặt mục tiêu xuất khẩu 9,5 triệu tấn nhưng theo ông Chookiat, nhiều khả năng việc Trung Quốc tung ra thị trường khối lượng lớn gạo giá thấp sẽ khiến mục tiêu của Thái Lan khó đạt.

Theo nongnghiep.vn

Gạo giảm sản lượng, tăng nhu cầu

Báo cáo mới đây của Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) đưa ra dự báo rằng trong năm 2020, sản lượng gạo toàn cầu sẽ giảm trong khi tiêu thụ tiếp tục tăng.

Việt Nam duy trì mức xuất khẩu 6,5 triệu tấn
Theo USDA, trong niên vụ 2019/20, sản lượng gạo toàn cầu dự báo sẽ giảm nhẹ, chủ yếu do giảm ở Trung Quốc và Ấn Độ. Cả diện tích và sản lượng lúa của Trung Quốc sẽ đều giảm do giá hỗ trợ tối thiểu không thay đổi. Sản lượng gạo của Ấn Độ dự báo giảm khoảng 1%.

Trong khi đó, tiêu thụ gạo sẽ tiếp tục tăng, nhất là tại châu Phi cận Sahara, nơi mà người tiêu dùng bị hấp dẫn bởi giá gạo Châu Á rẻ, và cũng do dân số tăng. Tiêu thụ cũng tăng thêm nhiều ở Ấn Độ và Trung Quốc, là những quốc gia mà sử dụng gạo làm lương thực chiếm phần lớn tổng tiêu thụ. Vì vậy, dù người dân nhiều nước có xu hướng giảm sử dụng gạo, nhưng tiêu thụ gạo thế giới dự báo sẽ tăng 1% vào năm 2020.

Thương mại gạo thế giới năm 2020 dự báo sẽ ở mức gần với kỷ lục trước đây, với mức tăng 3% lên 48 triệu tấn, tương đương năm 2017.

Nhu cầu nhập khẩu cao nhất đến từ Châu Phi cận Sahara và Trung Đông, trong khi nhập khẩu của khu vực Đông Nam Á dự báo sẽ giảm. Ấn Độ tiếp tục là nước xuất khẩu lớn nhất thế giới, tiếp đến là Thái Lan, Việt Nam và Pakistan.

Trong khi đó, Trung Quốc dự báo sẽ duy trì xu hướng tăng xuất khẩu mặc dù vẫn là nước nhập khẩu hàng đầu thế giới …

Riêng với Việt Nam, USDA dự báo sẽ duy trì mức xuất khẩu ở 6,5 triệu tấn do sản lượng tăng, bất chấp sự cạnh tranh cũng tăng trên thị trường gạo thế giới.

Mặc dù Trung Quốc dự báo sẽ vẫn là thị trường nhập khẩu lớn nhất của gạo Việt, song Trung Quốc cũng sẽ ngày càng cạnh tranh mạnh mẽ hơn với gạo Việt Nam trên thị trường Châu Phi. Triển vọng xuất khẩu gạo Việt Nam sang Philippines sẽ vẫn thuận lợi. Việt Nam tiếp tục đa dạng hóa các thị trường tiêu thụ, với các loại gạo chủ yếu là hương nhài, nếp, gạo trắng hạt dài và hạt vừa. 

Nhu cầu nhập khẩu ở các thị trường chính
Trung Quốc được USDA dự báo vẫn là nước nhập khẩu lớn nhất thế giới với 4 triệu tấn, chủ yếu nhập từ các nước láng giềng. Tiếp theo là Philippines, dự báo sẽ giảm 100.000 tấn nhập khẩu xuống 2,7 triệu tấn do lượng dự trữ còn nhiều trong khi sản lượng tăng lên. Nước nhập khẩu lớn thứ 3 là Nigeria, dự báo sẽ có nhu cầu nhập khẩu tăng 200.000 tấn lên 2,4 triệu tấn, do cần thêm gạo đồ, mặc dù sản lượng trong nước cũng tăng nhẹ.

Liên minh Châu Âu dự báo sẽ vẫn nhập khẩu 2 triệu tấn gạo trong bối cảnh sản lượng và tiêu thụ đều tăng nhẹ. Bờ Biển Ngà dự báo sẽ vẫn nhập khẩu 1,6 triệu tấn gạo. Nhu cầu nhập khẩu ở Bờ Biển Ngà vẫn tập trung vào các chủng loại gạo xay và gạo tấm Châu Á (Châu Á cung cấp gần như toàn bộ gạo nhập khẩu vào nước này).

Saudi Arabia dự báo sẽ tăng nhập khẩu thêm 25.000 tấn lên 1,4 triệu tấn bởi dự kiến khách du lịch tăng sẽ bù lại cho số lao động nước ngoài sụt giảm. Gạo nhập khẩu vào Saudi Arabia chủ yếu là loại basmati, nhưng cũng có một số gạo đồ hạt dài và gạo xay hạt vừa.


Tiêu thụ gạo thế giới dự báo sẽ tăng 1% vào năm 2020.
Iraq dự báo sẽ tăng nhập khẩu thêm 50.000 tấn lên 1,4 triệu tấn. Bộ Thương mại Iraq nhập khẩu thông qua các cuộc mở thầu quốc tế và mua trực tiếp để cung ứng gạo cho hệ thống phân phối công cộng. Ngoài ra, tư nhân cũng tham gia nhập khẩu để bổ sung lượng cung ứng cho thị trường nội địa.

Senegal dự kiến sẽ tăng nhập thêm 50.000 tấn lên 1,3 triệu tấn do nhu cầu gạo tấm liên tiếp tăng, nhất là từ các nhà cung cấp Châu Á. Senegal là nước nhập khẩu gạo tấm lớn nhất thế giới, và gần đây đã đưa ra những chính sách hạn chế nhập khẩu loại gạo này.

Iran dự kiến sẽ nhập khẩu 1,2 triệu tấn gạo, bằng năm trước, do nhu cầu tăng nhưng sản lượng cũng tăng. Nước này đã rất nỗ lực để tự cung tự cấp, mặc dù vẫn phải nhập khẩu gạo basmati để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng. Nam Phi dự báo nhập khẩu 1,1 triệu tấn. Malaysia dự báo sẽ vẫn nhập khẩu 1 triệu tấn giữa bối cảnh tiêu thụ chỉ tăng nhẹ.

UAE dự kiến sẽ tăng nhập thêm 75.000 tấn lên 925.000 tấn vì người dân tăng dùng gạo và và khách du lịch tăng trước khi diễn ra World Expo 2020. Nhiều người nước ngoài nằm trong số những người tiêu thụ gạo chủ chốt ở thị trường này.

Dự kiến nhập khẩu của một số thị trường quan trọng khác hoặc đầy tiềm năng đối với gạo Việt Nam như sau: Mỹ 900.000 tấn; Ghana 800.000 tấn (nước này nhập chủ yếu gạo thơm, phần lớn từ Việt Nam); Mexico 785.000 tấn; Indonesia 500.000 tấn; Cuba 500.000 tấn; Ai Cập 500.000 tấn; Hàn Quốc 410.000 tấn…

Theo nongnghiep.vn

Khát vọng Mù Cang Chải - Hạt lúa mang hình giọt mồ hôi

Chỉ khi đến với người dân trên các sườn núi cao dốc dựng nhìn xuống những cánh đồng như vân trên bàn tay, mới thấy được khát vọng của người dân Mù Cang Chải, một trong hai huyện khó khăn nhất tỉnh Yên Bái…


Tháng 3/1975, khi đó tôi đang là giáo sinh Trường trung cấp Sư phạm Nghĩa Lộ lên Mù Cang Chải thực tập ở xã Khao Mang nằm trên sườn núi cao cách đường chừng 2 km. Chúng tôi ăn nghỉ tại trụ sở UBND xã, đó là ngôi nhà gỗ ba gian, lợp bằng các tấm gỗ pơ mu, nền đất ẩm ướt, mọi người phải chặt cây rừng làm thành cái sạp để ngủ.

Ngày ấy, chưa cấm trồng cây thuốc phiện, nên người dân trồng khắp nơi, tháng 3 đang là mùa hoa, các sườn núi rực màu hoa thuốc phiện. Tôi có cảm giác thuốc phiện hồi ấy ở đây trồng nhiều hơn cả lúa, buổi tối chúng tôi đốt đuốc đến nhà học sinh vận động các em ra lớp.

Thật khó tả nổi, những ngôi nhà tối âm âm đã bảy tám giờ tối mà chủ nhà đi nương vẫn chưa về, phải đợi một lúc lâu mới thấy vợ chồng con cái lục tục kéo nhau về. Phụ nữ thì vào bếp chuẩn bị bữa cơm tối, còn đàn ông thì xoa chân vào chổi leo lên giường hút thuốc phiện.

Đèn đốt bằng mỡ trâu ngọn lửa xanh lè cháy leo lắt trong chiếc đĩa gắn trên cây cột giữa nhà. Lửa trong bếp lò phập phù chỉ đủ soi sáng nơi cửa lò người phụ nữ đang nhặt rau, gọt bí.

Nhà có khách nên họ mới thắp chiếc đèn dầu chụp bằng vỏ chai treo lên xà nhà. Tôi ngồi bên cạnh chủ nhà đang nằm co trên giường vê thuốc lên ngọn đèn đốt bằng mỡ lợn, mùi thuốc phiện ngầy ngậy thơm lừng. Sau khi rít xong một hơi lõm má, chủ nhà phả một luồng khói xanh lơ lên trời rồi đưa chiếc tẩu cho tôi bảo: Ua mà (hút đi).

Chúng tôi đều lắc đầu, vì khi lên Mù Cang Chải nhà trường đã nhắc nhở các giáo sinh, nếu ai mà hút thuốc phiện các thấy giáo bắt được thì sẽ bị đuổi học ngay. Vì thế nên ai cũng không dám mon men tới thuốc phiện. Tuy nhiên, vẫn có người lén lút thử xem mùi thuốc thế nào, họ còn cho cả cục thuốc phiện to bằng nắm tay.

Phải chờ chủ nhà hút xong vài điểu thuốc, ông ta mới chống gối ngồi dậy nghe chúng tôi trình bày việc cho con ông đến lớp. Ông gật đầu: Được mà, hôm nào nó không đi nương thì cho nó đi học thôi…


Bữa cơm tối dọn ra chừng đã 10 giờ đêm, nhìn vào mâm cơm là một chõ mèn mén, canh rau cải nấu với thịt chuột rừng cùng đĩa muối ớt đỏ lừ. Hỏi vì sao ăn toàn ngô thế này, chủ nhà nhăn nhó: Ruộng đâu mà trồng lúa, trên núi chỉ trồng được lúa nương thôi. Lúa ăn hết từ trước Tết rồi, bây giờ chỉ ăn ngô. Nhà còn vài bao ăn được hơn tháng nữa, năm nay đói to rồi các thầy giáo à…

Trong mấy chục năm qua, hàng ngàn ha rừng ở Mù Cang Chải bị đốn hạ để  trồng lúa nương và gieo thuốc phiện. Qua vài mùa mưa, đất dốc nên bị bào mòn rất nhanh, lúa nương trồng không lên nổi, mất mùa liên miên.

Đói, hàng ngàn người bồng bế nhau di cư vào các tỉnh Tây Nguyên, không ít gia đình buộc phải quay về. Cuộc vận động định canh định cư, làm ruộng bậc thang, trồng các giống lúa mới đã giúp người dân Mù Cang Chải có đủ gạo ăn.

Hơn chục năm qua tình trạng du canh du cư ở Mù Cang Chải đã cơ bản chấm dứt. Khát vọng bao đời của người dân Mù Cang Chải là xây dựng những thửa ruộng bậc thang để làm ra những mùa vàng. Chính sự khát vọng đó đã làm nên những cánh đồng ruộng bậc thang kỳ vĩ trên núi cao khiến bao người mê đắm.


Khát vọng ấy được khắc lên những tảng đá nằm trên các cánh đồng: Chế Cu Nha, La Pán Tẩn, Lao Chải, Dế Xu Phình…Qua cuộc thám sát đầu tiên của Bảo tàng tỉnh Yên Bái năm 2015 đã phát hiện ra bãi đá cổ ở các thôn: Tàng Ghênh, Hú Trù Lìn, Hồng Nhì Pá, trong đó tập trung nhiều nhất ở thôn Tàng Ghênh thuộc xã Lao Chải được khắc vào thế kỷ XVI-XVII, cách nay khoảng 300-400 năm.

Theo các chuyên gia, tác giả của những hình khắc trên bãi đá cổ ở Mù Cang Chải chính là người Mông chủ nhân mảnh đất Mù Cang Chải hiện nay.

Làm việc với bí thư xã Lao Chải anh Trần Minh Vấn cho hay: Toàn xã có 1.538 hộ, do sống trên núi cao, ruộng chỉ cấy được một vụ lại thiếu đất canh tác nhất là ruộng nước, nên Lao Chải hiện nay còn 57,35% hộ nghèo tưng ứng 882 hộ.

Theo Chương trình xóa nghèo bền vững, năm 2019 Lao Chải phấn đấu giảm 11% khoảng 170 hộ. Trong đó hỗ trợ đất sản xuất bằng việc khai hoang 30 ha ruộng nước cho 15 hộ. Bất cứ chỗ nào lấy được nước để làm ruộng xã đều vận động bà con khai hoang ruộng nước…

Tôi theo Vấn lên thôn Cồ Dề Sang A nằm tít trên đỉnh núi mù sương trên thăm thẳm núi cao cách trụ sở UBND xã 11 km. Mùa mưa ở Mù Cang Chải vào cuối tháng 4 kéo dài cho đến tháng 9, đây là mùa làm ruộng tất bật nhất trong năm. Vào gia đình nào cũng đều vắng bóng người.


Vấn cho hay: Suốt mùa cày cấy nhiều hộ cả nhà đều ăn ngủ ngoài lều nương mấy tháng trời, chỉ khi lúa đã tròn khóm bông đã uốn câu họ mới trở về nhà…Anh chỉ cho tôi những thửa ruộng bậc thang vừa khai hoang đất còn đỏ loét đang được lấy nước vào cấy vụ đầu tiên.

Trên Mù Cang Chải tôi có nhiều bạn, năm nào họ cũng mời tôi lên dự lễ ăn cơm mới. Hẹn hò mãi năm rồi tôi mới lên dự lễ ăn cơm mới nhà Vàng A Lử ở thôn Nả Háng Tâu, được tổ chức trước khi vào mùa gặt.

Buổi sáng vợ Lử là Hảng Thị Súa đeo gùi ra ruộng chọn những bông lúa to nhất đã chín cắt về nhà. Chị dùng bát tuốt những bông lúa ra chiếc mẹt rồi đưa vào chảo rang. Khói mù mịt, mùi lúa mới rang thơm lừng, ngôi nhà nhộn nhịp người ra người vào.


Sau khi lúa đã xào khô Súa đem vào giã được khoảng 5 bát gạo đầy. Những hạt gạo trắng muốt đều như nhộng ong non được Súa cho vào chiếc nồi đã đánh rửa sạch sẽ thổi cơm mới.

Sau khi cỗ bày ra Vàng A Lử chọn bộ quần áo mới để làm lễ cúng. Mâm cơm cúng được Hảng Thị Súa sắp ra đặt trên một chiếc bàn thấp dài hơn một mét, gồm một bát cơm to đầy ắp, 10 chiếc thìa cắm xung quanh, một bát thịt lợn, một bát canh măng và một chai rượu. Lử ngồi xuống rót rượu ra những chiếc chén bắt đầu cúng.


Giọng cúng của Lử trầm bổng nghe như hát, Lử vừa cúng vừa xúc cơm, thịt, canh đổ lên chiếc bàn: “Nu nó cú ua máo, blề sa sá, cú tua bua ua gà ua khấu tá, cú chi tâu nào, cú xu hu cú nả cú chí lù nào ua tề, nào sênh mo sênh dàng, sênh sái sênh lù, khớ dông khớ dừ hú si tró râu trồng râu dang, páo trà pá xú, páo tu páo kí, ua kông ua lông ua cúa dông, cú tâu nào tâu hầu cú tê tếnh tả cào seng hú...”

Nghĩa là: Hôm nay con làm cơm mới, con mổ lợn làm cơm, cơm nấu chín rồi con chưa ăn. Con xin được mời bố mẹ về ăn trước. Bố mẹ giúp chúng con trừ bệnh tật, mọi chuyện không hay, mọi điều xấu điều dở thì ra khỏi nhà. Bố mẹ giúp chúng con bảo vệ con cháu, bảo vệ đàn gia súc, gia cầm sản xuất mùa màng thuận lợi...

Bài cúng của Lử dài lắm nhằm tạ ơn trời đất, thần núi, thần rừng làm ra mưa thuận gió hòa, tạ ơn bố mẹ, ông bà tổ tiên đã để lại cho cháu con những thửa ruộng bậc thang như chạm khắc vào lưng chừng núi. Sau lễ cúng ăn cơm mới, vợ chồng Vàng A Lử mới cùng con cháu ra đồng gặt lúa.


Bất chợt trong tôi ngân lên câu thơ mà tôi đã làm năm 1982 trong một lần ngồi dưới chòi canh lúa vào mùa gặt: Qua bàn tay tôi thấy nhiều hạt lúa/ Hình giọt mồ hôi như ngọc long lanh…

Theo https://nongnghiep.vn

Lúa thơm Việt Nam sốt trên đất Thái

Tờ Bưu điện Bangkok vừa cho biết, giống lúa Jasmine 85 của Việt Nam hiện đang được nhiều nông dân ở tỉnh Nakhon Sawan, miền Bắc Thái Lan ưa chuộng do có nhiều đặc tính nổi trội hơn các giống lúa trong nước.

Đại diện Hội Nông dân Thái Lan, cho biết giống Jasmine 85 có tính kháng bệnh tốt, thời gian gieo trồng ngắn, chỉ khoảng 90 ngày so với 120 ngày của Thái và chất lượng gạo không hề thua kém. Điều quan trọng nhất là về giá khi hiện đã có những đơn vị cung cấp giống lúa Việt Nam cho nông dân Thái Lan xuống giống và hứa bao tiêu với giá 8.000 bạt/tấn, trong khi giống truyền thống của vùng này chỉ được đạt khoảng 6.000 bạt/tấn.

Trong diễn biến liên quan, Hiệp hội Các nhà xuất khẩu gạo Thái Lan vừa dự báo sẽ có thể xuất khẩu khoảng 9,5 triệu tấn gạo trong năm nay. Con số này thấp hơn 500 ngàn tấn so với các tính toán trước đó của Bộ Thương mại và giảm lượng gạo xuất khẩu khoảng 1,6 triệu tấn so với năm 2018.

Cơ sở của dự báo mới từ các nhà xuất khẩu căn cứ trên tỷ giá đồng bạt Thái vẫn đang mạnh lên so với đồng đô la Mỹ và đặc biệt là sự cạnh tranh thị phần rất gắt gao từ hai đối thủ lớn trong lĩnh vực xuất khẩu lương thực là Việt Nam và Ấn Độ. Ông Charoen Laothammatas, Chủ tịch Hiệp hội Xuất khẩu gạo Thái Lan cho biết,  trong năm nay chỉ đặt mục tiêu mang về 4,8 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu gạo, tuy nhiên con số này cũng là một thách thức.


Theo con số thống kê, năm 2018 Thái Lan xuất khẩu được 11,09 triệu tấn gạo các loại, giảm 5% so với năm 2017 là 11,67 triệu tấn và cao hơn năm 2016, chỉ đạt có 9,91 triệu tấn. Tuy nhiên kim ngạch xuất khẩu gạo của nước này trong năm ngoái lại tăng tới 8,3%, đạt 5,61 tỷ USD, cao hơn năm 2017, đạt 5,18 tỷ USD, trong khi năm 2016 là 4,40 tỷ USD. Nguyên nhân là do giá gạo trung bình xuất khẩu của năm ngoái đạt 507 USD/tấn, tăng tới 14,1% so với năm 2017 do đẩy nhanh các giống gạo chất lượng cao để tăng sức cạnh tranh.

Xét về thị trường xuất khẩu cụ thể của năm 2018 gồm có 5,49 triệu tấn gạo (tăng 17,4% so với cùng kỳ), trong đó gồm 2,71 triệu tấn gạo đồ (giảm 19,9%); gạo thơm  hom mali đạt 1,27 triệu tấn (giảm 22,1%); gạo tấm đạt 390 ngàn tấn (giảm 0,7%); gạo tấm thơm đạt 380 ngàn tấn (giảm 43,2%); gạo nếp đạt 180 ngàn tấn (giảm 15,7%). Do đó, năm nay các nhà xuất khẩu chỉ dự báo đạt 4,8 triệu tấn gồm 2,4 triệu tấn gạo đồ và 1,3 triệu tấn gạo thơm hom mali và khoảng 400 ngàn tấn gạo nếp…

Theo nongnghiep.vn

Xuất khẩu gạo đã khởi sắc trở lại

Do nhu cầu thấp và ảnh hưởng tồn kho gạo cũ của Thái Lan, nên suốt thời gian dài xuất khẩu gạo của Việt Nam luôn trong tình trạng trì trệ. Tuy nhiên, 6 tháng đầu năm nay, xuất khẩu gạo đã khởi sắc trở lại, tăng 24,6% về lượng và tăng đến 42,4% về kim ngạch so với cùng kỳ. Sáu tháng cuối năm thị trường vẫn sẽ tốt vì nhu cầu từ các thị trường truyền thống đã củng cố thêm niềm tin xuất khẩu gạo.

Xuất khẩu gạo tháng 6/2018 ước đạt 604 ngàn tấn với 317 triệu USD, đưa xuất khẩu gạo 6 tháng đầu năm 2018 ước đạt 3,6 triệu tấn và 1,8 tỷ USD, tăng 24,6% về lượng và tăng 42,4% về giá trị so với cùng kỳ năm 2017. Giá xuất khẩu bình quân 5 tháng đầu năm đạt 505 USD/tấn, tăng 13,4% so với cùng kỳ năm 2017.

Nông dân - Doanh nghiệp - Nhà nước đều có lợi

Trung Quốc vẫn tiếp tục đứng nhất về thị trường nhập khẩu trong những tháng đầu năm nay với 30% thị phần, đạt 844,1 ngàn tấn và 449,4 triệu USD. Các thị trường có giá trị xuất khẩu gạo tăng mạnh là: Iraq (gấp 25,7 lần), Malaysia (gấp 2,8 lần), Hoa Kỳ (gấp 2,4 lần), Hồng Kông (tăng 49%), Philippines (tăng 37,9%) và Gana (tăng 17,9%).


Riêng thị trường Indonesia tăng đột biến, gấp 290,8 lần về lượng và tăng gấp 269,5 lần so với cùng kỳ năm ngoái, đạt 596.058 tấn, trị giá 280,04 triệu USD, chiếm 17,3% trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa các loại sang Indonesia.

Đánh giá tình hình xuất khẩu gạo trong 6 tháng qua, ông Trương Thanh Phong, Cố vấn Tập đoàn Golden Resources Development International. Ltd. H.K cho rằng, 6 tháng đầu năm nay sản xuất và xuất khẩu đều thuận lợi, cho dù diễn biến của thị trường giá có lúc tăng, lúc giảm. Nhưng nhìn chung, từ đầu năm đến nay giá gạo xuất khẩu và giá lúa trong nước đều tốt nên người dân và doanh nghiệp đều có lợi.

"Sản xuất và xuất khẩu gạo trong 6 tháng qua đều đạt hiệu quả rất cao nên 3 nhà: nông dân, doanh nghiệp và Nhà nước cùng có lợi, như vậy có thể nói sản xuất và xuất khẩu gạo đều được mùa. Đó là thành quả của ngành lúa gạo, tuy nhiên, cơ cấu giống vẫn chưa phù hợp, người nông dân vẫn làm theo cảm tính khiến nhiều lúc còn bị động. Vấn đề này cần rút kinh nghiệm, nhất là đối với những giống lúa theo làm phong trào", ông Phong cho hay.

Đánh giá về tình hình thị trường 6 tháng cuối năm 2018, các chuyên gia cho rằng, thị trường Trung Quốc chưa có tín hiệu rõ ràng, vì Trung Quốc đang vướng vào những căng thẳng thương mại với Mỹ nên tập trung vào vấn đề này là chính.

Thị trường đang có dấu hiệu tốt lên

Tuy nhiên, thị trường vẫn có nhu cầu tốt, dự báo, từ quý 4/2018 đến quý 1/2019, nhu cầu về gạo sẽ đến từ thị trường Philippines. Tin tức về việc Philippines mở thầu nhập khẩu gạo theo chương trình tiếp cận thị trường tối thiểu (MAV) 2018 với 805.200 tấn, góp phần vào nhu cầu nhập gạo trên thị trường này tăng cao, khi những lô hàng cuối cùng của gói thầu MAV 2017 sẽ hoàn tất trong vài tháng tới.

Nhu cầu mua gạo thị trường Indonesia và Malaysia dự kiến vẫn ổn định. Thị trường Bangladesh cũng có nhu cầu nhập khẩu gạo; còn đối với Trung Quốc, dù bị vướng vào cuộc chiến thương mại với Mỹ nhưng Trung Quốc vẫn phải nhập khẩu gạo để phục vụ nhu cầu nội địa, song có thể không cao như các năm trước.

Thị trường châu Phi vẫn có nhu cầu lớn và thường xuyên, Thái Lan không còn tồn kho gạo cũ nên sẽ khó có thể chi phối thị trường này. Nhìn chung, tiêu thụ lúa gạo trong năm 2018 sẽ rất tốt, song cần lưu ý trong quý 3/2018, thị trường có thể gặp khó khăn do Thái Lan được mùa, giá gạo có thể bị giảm và đồng bath mất giá rất mạnh, khiến giá gạo của Thái Lan và Việt Nam chênh lệch nhau từ 15 đến 20 USD/tấn.

Đây là bất lợi cho xuất khẩu gạo của Việt Nam. "Do vậy, từ đây đến cuối năm chúng ta phải cạnh tranh về giá với Thái Lan. Nếu giá gạo Việt Nam cao quá sẽ khó bán nhưng nếu đứng ở mức vừa phải thì xuất khẩu gạo sẽ rất tốt, do chúng ta có thị trường và có khách hàng. Dự báo, quý 4/2018 và quý 1/2019 thị trường lúa gạo sẽ rất tốt", ông Phong phân tích.

Theo Cục Trồng trọt (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn), từ nay đến cuối năm, ngành lúa gạo còn thu hoạch thêm 2 vụ lúa hè thu và thu đông. Nếu thời tiết thuận lợi không có những diễn biến bất thường, sản lượng có khả năng đạt 23,3 triệu tấn, nâng sản lượng lúa cả năm lên 43,9 triệu tấn, tăng ít nhất 1,2 triệu tấn so với năm 2017.

Việt Nam dự kiến xuất khẩu 6 triệu tấn gạo năm 2019

Theo số liệu từ Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, năm 2018, Việt Nam xuất khẩu 6,1 triệu tấn lúa gạo, trị giá 3,06 tỷ USD, tăng 5,1% về lượng và 16,3% về giá trị so với năm 2017. Song song đó, Việt Nam cũng đứng thứ 2 thế giới về xuất khẩu gạo.

Nguyên nhân chính là do Việt Nam đã chuyển đổi được cơ cấu giống, tỷ trọng gạo chất lượng cao chiếm gần 80% gạo xuất khẩu, vì vậy đã nâng giá gạo xuất khẩu bình quân tăng từ 452 USD/tấn năm 2017 lên 502 USD/tấn năm 2018, tương đương và có thời điểm còn cao hơn giá gạo cùng loại của Thái Lan.

Về đất sản xuất, hiện nay đất sản xuất lúa cả nước chiếm trên 4 triệu ha, đảm bảo an ninh lương thực cho gần 100 triệu dân trong nước.

Trong năm 2019, dự báo xuất khẩu gạo Việt Nam vẫn đạt 6 triệu tấn, tương đương so với kết quả đã đạt được của năm 2018, trong đó thị trường chủ yếu là khu vực châu Á.

Cũng trong năm 2019, dự kiến diện tích lúa trên cả nước là 7,53 triệu ha, năng suất trung bình 58,1 tấn/ha, sản lượng gạo dự kiến đạt 43,8 triệu tấn, tương đương năm 2018, đủ cho nhu cầu trong nước và kế hoạch xuất khẩu.

Đối với xuất khẩu gạo, Bộ Nông nghiệp cho biết, Thủ tướng Chính phủ tiếp tục dành sự quan tâm, chỉ đạo sâu sát, kịp thời và có nhiều quyết sách tạo thuận lợi hơn cho phát triển nông nghiệp, nông thôn. Các chính sách hỗ trợ phát triển và những giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, phát triển thị trường, trong đó có ngành lúa gạo tiếp tục phát huy hiệu quả.

Tuy nhiên, hoạt động xuất khẩu gạo của Việt Nam vẫn đang phải đối mặt với những khó khăn, thách thức trong bối cảnh thương mại gạo toàn cầu vẫn tiềm ẩn những biến động khó lường.

Cụ thể, từ cuối năm 2018 đến nay việc tiêu thụ gạo gặp một số khó khăn, giá lúa ở vụ Đông Xuân 2018-2019 giảm khoảng 1.000 đồng/kg so với cùng kỳ năm trước. Xuất khẩu gạo tháng 1/2019 đạt 437,6 nghìn tấn với giá trị đạt 195,3 triệu USD, giảm 10,9% về khối lượng và 18,2% về giá trị so với cùng kỳ năm 2018. Thị trường lớn nhất là Trung Quốc giảm, các thị trường khác chưa có nhiều khởi sắc.

Nguyên nhân do nguồn cung dồi dào vì đang bước vào thu hoạch rộ vụ lúa Đông Xuân - vụ lúa lớn nhất trong năm, trong khi đó các giao dịch xuất khẩu cũng ít hơn trong thời gian gần Tết. Các thị trường quốc tế đang tiếp tục có sự cạnh tranh gia tăng về chất lượng, chủng loại và yêu cầu kiểm tra chất lượng hàng xuất khẩu.


Mới đây Thủ tướng đã chỉ đạo giao Bộ Tài chính thu mua đưa vào dự trữ quốc gia năm 2019 với lượng 200.000 tấn gạo và 80.000 tấn lúa.

Đồng thời, một số doanh nghiệp Trung Quốc đã trao đổi, thống nhất với các đối tác của Việt Nam về nhu cầu xuất khẩu gạo của Việt Nam. Cụ thể biên bản ghi nhớ đã được ký kết giữa Tổng công ty Lương thực Miền Nam (Vinafood 2) và Thung lũng Thực phẩm Nông nghiệp Công nghệ cao quốc gia Sơn Đông - Trung Quốc (FVC). Hai bên sẽ thực hiện ngay Bản ghi nhớ này trong nửa đầu năm 2019.

Theo http://vneconomy.vn

Ngành lúa gạo phải thoát khỏi “tư duy mùa vụ và thương vụ”

Vì sao lúa đông xuân 2018-2019 ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) rơi vào tình trạng ảm đạm? Làm sao để giảm bớt khó khăn trong tiêu thụ ở giai đoạn trước mắt hiện nay?
Xuất hiện thách thức mới
Trái ngược với cảnh hân hoan vì trúng giá, được mùa trong vụ lúa đông xuân 2017-2018, bước sang vụ đông xuân 2018-2019 này, hàng loạt khó khăn đã xuất hiện, trong đó, lớn nhất là giá lúa giảm, tiêu thụ khó khăn…
Theo báo cáo của Bộ NN&PTNT, từ cuối 2018, giá lúa tươi IR50404 tại ruộng có dấu hiệu sụt giảm. Đầu tháng 2-2019 sụt xuống 4.200-4.400 đồng/kg; loại thóc hạt dài OM 504 giảm còn 4.500 đồng/kg.
Nguyên nhân được đánh giá do một số thị trường vẫn còn lượng gạo dư của 2018 nên chưa có nhu cầu nhập khẩu trong đầu năm. Sau Tết Kỷ Hợi 2019, các doanh nghiệp đã giao hàng vào tháng 12-2018 chưa chủ động giao hàng theo các hợp đồng, hệ thống thương lái chưa vào cuộc mạnh mẽ. Thị trường lớn nhất xuất khẩu gạo của Việt Nam là Trung Quốc đã xuất hiện thách thức mới.
Ông Nguyễn Đình Bích , chuyên gia phân tích thị trường lúa gạo cho rằng, thực trạng nêu trên đã thể hiện đúng tình hình hiện nay, đó là đầu ra của ngành lúa gạo hiện đang rất khó khăn.
Cụ thể, ông Bích dẫn dự báo của Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) cho rằng, khó khăn hiện nay là vấn đề chung của các nước xuất khẩu, chứ không riêng Việt Nam. Bởi dù thế giới tiếp tục không được mùa (giảm gần 4 triệu tấn), nhưng sản lượng vẫn ổn định vì dự trữ tăng mạnh (đạt gần 162 triệu tấn). Trong khi thương mại thế giới không có đột biến, chỉ tương đương như năm 2018, tức đạt 45 triệu tấn.
Theo ông Bích, trong các nước xuất khẩu gạo, thì Việt Nam là khó nhất vì Trung Quốc - thị trường nhập khẩu gạo hàng đầu của Việt Nam - tiếp tục thắt chặt nhập khẩu. Trong khi đó, Thái Lan - đối thủ cạnh tranh trong xuất khẩu gạo với Việt Nam vẫn tiếp tục cố gắng chiếm lĩnh thị trường này với khối lượng lớn, vì vậy khả năng “đẩy” gạo Việt Nam vào Trung Quốc là khó khăn.

Còn với các thị trường Đông Nam Á chủ yếu (Philippines, Malaysia, Indonesia), thì khả năng Indonesia sẽ không tiếp tục nhập khẩu gạo trong năm 2019. Trong khi đó Philippines lại không có thay đổi gì nhiều so với năm 2018.
“Như vậy, với 4 thị trường nhập khẩu gạo ở châu Á chủ yếu của Việt Nam (Trung Quốc, Indonesia, Malaysia và Philippines), mà có 2 thị trường khó khăn (Trung Quốc và Indonesia), thì chắc chắn Việt Nam gặp khó”, ông nhận định và cho rằng việc thương lái không mua lúa của nông dân hiện nay đã phản ánh đúng triển vọng ấy.
Đứng ở góc độ doanh nghiệp, một vị đại diện của Tổng công ty lương thực miền Bắc ( Vinafood 1) với tư cách cá nhân đã nhận định, giá lúa gạo năm 2018 tăng mạnh là rơi vào chu kỳ 5 năm mới có 1 năm tăng mạnh do nhu cầu đột biến, trong khi các nước nhập khẩu theo nhu cầu thật sự.
Tuy nhiên, bước sang năm 2019, sự đột biến như năm 2018 đã không còn, dẫn đến cung vượt cầu làm giá lúa giảm.
Mua tạm trữ chỉ là giải pháp trước mắt
Ông Phạm Thái Bình , Giám đốc Công ty cổ phần nông nghiệp công nghệ cao Trung An cũng cho rằng, để giúp ngành lúa gạo vượt qua giải đoạn khó khăn trước mắt hiện nay không còn cách nào khác, Chính phủ phải thực hiện thu mua tạm trữ.
“Trước mắt, trong vụ đông xuân 2018-2019 này, chỉ có can thiệp của Chính phủ mới giúp giải quyết được khó khăn này thôi”, ông nói và giải thích sở dĩ doanh nghiệp hiện nay không dám mua vào vì đầu ra khó khăn, trong khi về khả năng tài chính để mua tạm trữ lâu, thì doanh nghiệp không đáp ứng nổi.

Chiều 19-2, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã chủ trì cuộc họp với một số bộ, ngành về tình hình lúa gạo xuống giá ở Đồng bằng sông Cửu Long. Thủ tướng nhấn mạnh tinh thần việc gì có lợi cho người dân thì cố gắng làm và nêu rõ, các biện pháp đưa ra là biện pháp thị trường bình thường chứ không phải phi thị trường.
Nhà nước không can thiệp vào thị trường để bảo đảm hoạt động thị trường bình thường, theo quy luật giá trị. Tuy nhiên, trách nhiệm của Nhà nước là làm sao người dân có lợi ích tốt nhất trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được pháp luật cho phép.
Để giải quyết vấn đề giá lúa thấp hơn so với cùng kỳ mặc dù người nông dân vẫn có lãi (nhưng mức lãi rất thấp), Thủ tướng nhất trí với kiến nghị của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và các bộ, ngành liên quan.
Thủ tướng yêu cầu Bộ Tài chính chỉ đạo mua đủ lượng gạo và lúa dự trữ mà kế hoạch Nhà nước đã giao, “phải mua sớm”, bao gồm 200.000 tấn gạo và 80.000 tấn thóc.
Bộ Công Thương tiếp tục cùng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tìm thị trường mới để tiêu thụ lúa dài hơi hơn cho người dân, nhất là khi chúng ta tham gia một số hiệp định thương mại mới gần đây trên cơ sở chất lượng gạo của Việt Nam được đánh giá không kém gì bất kỳ gạo ở nước ngoài.
“Lúa gạo chỉ có con đường phát triển duy nhất là nâng cao chất lượng, gia tăng giá trị và cơ cấu lại sản phẩm phù hợp với nhu cầu của thị trường toàn cầu”, Thủ tướng nêu rõ.
Do vậy Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các địa phương phải triển khai mạnh mẽ hiệu quả đề án tái cơ cấu ngành lúa gạo để gạo chất lượng cao, gạo dược liệu, gạo chữa bệnh, gạo có thương hiệu của Việt Nam ngày càng phổ cập. Đây là một trong giải pháp căn cơ để hạt lúa không mãi lập lại điệp khúc "giải cứu".

Theo Miền Tây
Pháp luật Tp Hồ Chí Minh

Tiền Giang: Giá lúa gạo tăng mạnh, thương lái dự trữ lãi cao

Những ngày gần đây, giá lúa gạo tại tỉnh Tiền Giang tăng cao khiến doanh nghiệp, thương lái và người nông dân phấn khởi.

Tại thời điểm này, các doanh nghiệp, thương lái thu mua lúa giống 50404 giá 4.600 đồng/kg, lúa 6979 giá 4.800 đồng/kg tăng từ 300-500 đồng/kg so với tháng trước.  Riêng các loại gạo giá cũng tăng  từ  800 - 1.000 đồng/kg so với tháng trước. Cụ thể, gạo giống 5451 giá 10.600 đồng/kg, gạo 2517 giá từ 9.700 - 10.000 đồng/kg.
Giá lúa gạo tăng cao là do diện tích lúa chưa thu hoạch đã giảm, thị trường tiêu thụ gạo có chuyển biến tích cực, chủ trương hỗ trợ tạm trữ gạo đối với các doanh nghiệp đã phát huy hiệu quả. Tại tỉnh Tiền Giang, người dân đã thu hoạch xong vụ lúa Đông Xuân nên các thương lái phải đi thu mua lúa gạo từ các địa phương khác.

Bà Nguyễn thị Kim Quyên, chủ một doanh nghiệp kinh doanh gạo tại huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang cho biết, đầu ra hạt gạo đang có chiều hướng tốt, phần lớn doanh nghiệp, hộ dân dự trữ lúa gạo đều rất phấn khởi vì có lãi cao. Hiện tại, doanh nghiệp của bà tiếp tục tổ chức thu mua gạo để cung ứng cho các hợp đồng với đối tác.
“Mấy ngày nay giá gạo lên cao, một tấn tăng hơn 1 triệu đồng, tăng hơn 300 đồng/kg (so với tuần trước). Nay giá gạo tăng lên, thương lái thu mua đưa đi các tỉnh. Thời tiết năm nay lạnh, gạo cũng được mùa”, bà Quyên cho hay./.

Theo Nhật Trường
VOV