Cải cách ngành lúa gạo Việt Nam theo định hướng thị trường

Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt Chiến lược Phát triển thị trường xuất khẩu gạo của Việt Nam giai đoạn 2017-2020, định hướng đến năm 2030 (Chiến lược)

Một trong những mục tiêu của Chiến lược là giảm dần lượng gạo hàng hóa xuất khẩu nhưng giữ ổn định và tăng trị giá xuất khẩu gạo. Như vậy, ngành lúa gạo sẽ phải tổ chức sản xuất, xây dựng thương hiệu để thực hiện mục tiêu phát triển thị trường xuất khẩu gạo Việt Nam.


Theo Chiến lược, giai đoạn 2017-2020, lượng gạo xuất khẩu hàng năm khoảng từ 4,5-5 triệu tấn vào năm 2020, trị giá bình quân khoảng từ 2,2-2,3 tỷ USD/năm.

Giai đoạn 2021-2030, lượng gạo xuất khẩu hàng năm khoảng 4 triệu tấn, trị giá xuất khẩu đạt từ 2,3-2,5 tỷ USD/năm. Đồng thời, tiến hành chuyển dịch cơ cấu mặt hàng xuất khẩu.

Đến năm 2020, tỷ trọng gạo trắng phẩm cấp thấp và trung bình không vượt quá 20% tổng sản lượng gạo xuất khẩu, gạo trắng phẩm cấp cao chiếm khoảng 25%; tỷ trọng gạo thơm, gạo đặc sản, gạo Japonica chiếm khoảng 30%, gạo nếp chiếm khoảng 20%.

Các sản phẩm gạo có giá trị gia tăng cao như gạo dinh dưỡng, gạo hữu cơ, bột gạo, sản phẩm chế biến từ gạo chiếm khoảng 5%. Bên cạnh đó, tăng tỷ lệ gạo xuất khẩu trực tiếp và mang thương hiệu Việt Nam.

Đáp ứng nhu cầu thị trường, những năm gần đây, diện tích gieo trồng lúa chất lượng cao ngày càng tăng lên. Các doanh nghiệp xuất khẩu gạo cũng chủ động hơn trong vấn đề chấp nhận thị trường gạo chất lượng cao. Nhiều doanh nghiệp đã chủ động liên kết, xây dựng chuỗi sản xuất lúa gạo. Điển hình ở Đồng bằng sông Cửu Long có từ 10-12 thương hiệu gạo do các doanh nghiệp xây dựng riêng như Hạt Ngọc Trời, Ngọc Đồng...

Theo ông Trần Công Thắng, Phó Viện trưởng Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn, hiện chưa có quy hoạch quốc gia cho lúa xuất khẩu nhưng các tỉnh đã hình thành các vùng sản xuất lúa chất lượng cao, áp dụng công nghệ cao... để sản xuất lúa xuất khẩu. Hiện đã có nhiều chỉ dẫn địa lý với sản phẩm gạo như gạo tám xoan Hải Hậu (Nam Định), gạo Điện Biên...

Nhiều thương hiệu địa phương dưới hình thức bảo hộ nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận như nếp cái hoa vàng Kinh Môn (Hải Dương), nếp cái hoa vàng Đông Triều (Quảng Ninh), gạo thơm Sóc Trăng. Ngoài ra, nhiều doanh nghiệp đã xây dựng thương hiệu ở mức độ thương hiệu chung của doanh nghiệp và thương hiệu sản phẩm.

Tuy nhiên, theo ông Trần Công Thắng, bên cạnh việc phát triển thị trường gạo chất lượng cao, Việt Nam vẫn cần phát triển gạo ở các thị trường gạo truyền thống và mở rộng xuất khẩu gạo sang châu Phi.

Bên cạnh đó, không chỉ Việt Nam, nhiều quốc gia sản xuất gạo lớn đang gặp nhiều vấn đề về yếu tố tác động như xâm nhập mặn, biến đổi khí hậu... Bởi vậy, việc sản xuất lúa gạo thích ứng với biến đổi khí hậu đang trở thành thách thức lớn.

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cũng đang phối hợp với Viện Nghiên cứu lúa gạo quốc tế (IRRI) để có những bộ giống chủ lực cho từng vùng và gắn kết ngay với thị trường tiêu thụ lúa gạo.



Theo Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Lê Quốc Doanh, thực hiện Đề án tái cấu trúc ngành hàng lúa gạo Việt Nam, ngành nông nghiệp đã đưa ra hệ thống các gói giải pháp từ khâu cải tiến bộ giống đến hình thành gói kỹ thuật và các điều kiện hạ tầng, đặc biệt là cơ giới hóa trong sản xuất, bảo quản, chế biến và sản xuất theo chuỗi. Đồng thời, định dạng các thị trường xuất khẩu lúa gạo Việt Nam, từ đó xác định các giống phù hợp cho từng thị trường, phân khúc từng thị trường lúa gạo.

Thứ trưởng Lê Quốc Doanh cũng cho biết, trước mắt tập trung đẩy mạnh nghiên cứu bộ giống có chất lượng và nghiên cứu gói kỹ thuật sản xuất lúa cho từng vùng cụ thể theo hướng giảm chi phí trong sản xuất, nâng cao chất lượng gạo. Bên cạnh đó, bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu, từng bước chuyển đổi nông nghiệp bền vững.

Thực hiện Chiến lược Phát triển thị trường xuất khẩu gạo của Việt Nam giai đoạn 2017-2020, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn sẽ rà soát, xác định các vùng trồng lúa có lợi thế để điều chỉnh quy hoạch sản xuất, chuyển đổi diện tích canh tác lúa kém hiệu quả sang mục đích khác. Xây dựng kế hoạch, lộ trình điều chỉnh quy mô sản xuất, sản lượng phù hợp với nhu cầu trong nước, thế giới và năng lực cạnh tranh của gạo Việt Nam.

Song song với đó, quy hoạch và tổ chức sản xuất theo vùng nguyên liệu, vùng chuyên canh lúa hàng hóa phục vụ xuất khẩu sang các thị trường cụ thể với sự liên kết, liên doanh, đặt hàng của doanh nghiệp. Tại vùng này, từ khâu chọn giống đến quy trình canh tác, sản xuất, thu hoạch, chế biến, bảo quản sản phẩm đều thực hiện theo yêu cầu của thị trường nhập khẩu. Chọn lọc, thống nhất đưa vào sử dụng bộ giống lúa phù hợp với điều kiện sản xuất của từng vùng, từng địa phương, đảm bảo đáp ứng nhu cầu, thị hiếu tiêu dùng của thị trường tiêu thụ.

Từ nay đến cuối năm, thị trường xuất khẩu gạo đang được dự báo sẽ rất khởi sắc. Ngành nông nghiệp đang quyết liệt triển khai các giải pháp cho vụ lúa Thu Đông tại các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long để chớp thời cơ thuận lợi này.

Theo ông Nguyễn Hồng Sơn, Cục trưởng Cục Trồng trọt, vụ Thu Đông năm nay tại các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long là vụ lúa duy nhất còn lại trong năm để đảm bảo an ninh lương thực và bù đắp cho sản lượng lúa cả nước đã bị tụt giảm trong vụ Đông Xuân 2017.

Cụ thể, sản lượng lúa Đông Xuân cả nước năm 2017 đạt 19,1 triệu tấn, giảm 296.600 tấn so với năm 2016. Bên cạnh đó, trong bối cảnh giá lúa gạo đã và đang được dự báo có khả năng lên từ nay tới cuối năm, đây là dịp để nông dân Đồng bằng sông Cửu Long tranh thủ thời cơ phục vụ xuất khẩu và tăng thu nhập.

Ông Nguyễn Hồng Sơn cho rằng để sản xuất lúa Thu Đông năm nay đảm bảo ăn chắc, trước hết các địa phương Đồng bằng sông Cửu Long cần tập trung tăng cường theo dõi diễn biến của dịch hại trên đồng, nhất là rầy nâu và bệnh vàng lùn-lùn xoắn lá. Các loại sâu bệnh này đang có chiều hướng phát triển mạnh để bảo vệ diện tích và năng suất lúa Hè Thu hiện còn chưa thu hoạch xong.

Với vụ Thu Đông tới, ngành nông nghiệp khuyến cáo nông dân ưu tiên sử dụng một số giống lúa thơm phục vụ xuất khẩu có giá trị cao như Jasmine 85, Nàng Hoa 9, VD20. Các giống lúa chủ lực xuất khẩu đạt tiêu chí hạt dài, trắng trong, không bạc bụng chiếm tỷ trọng xuất khẩu cao như OM4900, OM6976, OM5451, OM 7347./.

Bích Hồng - Vietnam+

Nhiều hướng đi mới trong sản xuất nông nghiệp ở Thanh Trì, Hà Nội

Thanh Trì là huyện ven đô của Hà Nội, đất nông nghiệp ngày càng thu hẹp. Đến nay huyện đã tạo dựng được một số vùng sản xuất chuyên canh tập trung, mô hình trồng rau công nghệ cao, trồng cây ăn quả chuyên canh... Nhiều mô hình đã và đang giúp nông dân tăng thu nhập, nâng cao đời sống.


Mô hình trồng rau sạch tại Thanh Trì. Ảnh: Thành Nam

Với lợi thế vùng đất bãi sông Hồng màu mỡ, xã Yên Mỹ (Thanh Trì) đã phát triển vùng trồng rau an toàn với diện tích 70 ha (đã được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất rau an toàn). Trong đó có khoảng 12 ha trồng rau đạt tiêu chuẩn VietGAP. Mô hình trồng rau thủy canh trong nhà lưới tuy còn mới mẻ, đòi hỏi yêu cầu kỹ thuật cao, nhưng người dân đã nhanh chóng nắm bắt được khoa học - công nghệ, tổ chức sản xuất ổn định.

Mô hình được khởi công tháng 6/2017, đến tháng 9/2017 hoàn thành với các hệ thống lưới cắt nắng tự động cảm biến nhiệt độ, hệ thống quạt đối lưu không khí, hệ thống bơm động lực, hệ thống cấp dinh dưỡng và thu hồi dinh dưỡng tuần hoàn. Hiện, mô hình đã cơ bản hoàn thành việc tiếp nhận công nghệ pha dinh dưỡng, chăm sóc cây trồng và đi vào sản xuất với các loại rau cải, rau muống, xà lách, cà chua bi, dưa leo,... Cây rau trồng thủy canh trồng trong hệ thống nhà màng nilon nên không chịu tác động của mưa, nắng; hạn chế được sâu, bệnh; trong quá trình sản xuất dinh dưỡng cung cấp cho cây được kiểm soát nên có thể  đảm bảo liên tục có rau thu hoạch.

Mô hình trồng rau thủy canh đầu tiên trên địa bàn huyện Thanh Trì là thuộc hộ gia đình ông Nguyễn Mạnh Hồng, nay là HTX sản xuất nông nghiệp công nghệ cao Đức Phát. Ông Hồng chia sẻ, được sự hỗ trợ của huyện Thanh Trì, xã Yên Mỹ về kinh phí và mặt bằng sản xuất, mô hình trồng rau thủy canh với quy mô 5.000m2, diện tích nhà kính 2.600m2 của ông Hồng sớm hoàn thiện.

Ông đã thiết kế mỗi luống cây xà lách có diện tích 6m x 1,5m, trồng 210 gốc cây/luống; thời gian cho thu hoạch bình quân rau có lá (rau muống, rau cải) khoảng 25 ngày... Bình quân, mỗi năm ông Hồng sản xuất khoảng 11 lứa rau, cho thu nhập gần 900 triệu đồng, cao hơn 20 lần so với trồng rau truyền thống trên cùng một đơn vị diện tích...

Bên cạnh đó, huyện đã nhân rộng mô hình trồng rau xanh sử dụng các giống mới, rau chất lượng cao, rau hữu cơ, rau trái vụ theo nhóm hộ sản xuất có liên kết tiêu thụ sản phẩm với doanh nghiệp.

Một mô hình chuyển đổi cơ cấu cây trồng khác cũng mang lại hiệu quả kinh tế khá cao ở huyện Thanh Trì là trồng cây ăn quả ở xã Vạn Phúc. Từ năm 2012 đến năm 2015, sau khi thực hiện dồn điền đổi thửa, một số hộ gia đình đã mạnh dạn chuyển sang trồng cam cảnh, quất cảnh, bước đầu cho hiệu quả kinh tế cao. Đến nay, Vạn Phúc có hơn 80 ha cam, quất, bưởi trồng tập trung thành vùng; hằng năm cung cấp cho thị trường hơn 10.000 cây cam cảnh, quất cảnh vào dịp Tết Nguyên đán, cho thu lãi khoảng 300 triệu đồng/ha/năm.

Bà Nguyễn Thị Tuyết Anh, Phó trưởng phòng Phòng Kinh tế huyện Thanh Trì cho biết, đi đôi với xây dựng vùng sản xuất tập trung, huyện Thanh Trì đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào phát triển các mô hình kinh tế làm tiền đề nhân rộng như: Sản xuất nấm ăn, nấm dược liệu 3,1 ha tại xã Vĩnh Quỳnh, từ đó nhân rộng thêm 14 hộ vệ tinh; xây dựng Hợp tác xã chăn nuôi lợn công nghiệp khép kín theo quy trình VietGAP quy mô 6 ha tại xã Đại Áng...

Để duy trì chất lượng cây trồng, huyện Thanh Trì đã cấp lại giấy chứng nhận đối với 140,5 ha rau an toàn và 50 ha rau sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP. Nhờ tích cực chuyển đổi cơ cấu cây trồng, ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp đã giúp giá trị cây trồng trên 1ha canh tác ở Thanh Trì đạt 210 triệu đồng/ha/năm, góp phần nâng thu nhập bình quân toàn huyện lên 48,4 triệu đồng/người/năm...


Nguồn: Cổng Thông tin điện tử Chính phủ

Hàng trăm ha lúa ở Huế khô cháy do thiếu nước tưới tiêu

Chiều 25-3, ông Phan Thanh Hùng, Chi cục Trưởng Chi cục Đê diều và phòng chống thiên tai, Sở NN&PTNT tỉnh Thừa Thiên- Huế cho biết, qua công tác theo dõi, kiểm tra, hiện trên toàn tỉnh có hơn 160 ha lúa bị khô cháy do hạn hán và thiếu nguồn nước tưới tiêu.

Cụ thể, địa bàn huyện miền núi A Lưới có diện tích lúa bị khô cháy lớn nhất với 81 ha, tập trung tại các xã Hồng Quảng 22ha, A Ngo 15ha, Phú Vinh 4ha, Sơn Thủy 40ha; huyện Nam Đông 30 ha tập trung ở các xã Hương Hòa 17ha, Hương Hữu 8ha, Thượng Long 2ha, Thượng Quảng 2ha, Thượng Nhật 2 ha; Huyện Phú Vang có 50 ha lúa bị khô cháy tập trung ở Phú Đa.

Theo ông Hùng, thời gian qua ở tỉnh Thừa Thiên- Huế xuất hiện hiện tượng El Nino hoạt động mạnh nên lượng mưa và dòng chảy bị thiếu hụt, dung tích trữ nước tại các hồ thủy lợi, thủy điện đang ở mức thấp. Trong khi đó diện tích lúa ở các địa phương kể trên chỉ dựa vào nguồn nước tự nhiên bởi hệ thống thủy lợi chưa được xây dựng.


Nhiều diện tích lúa ở huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên- Huế chết cháy do khô hạn, thiếu nước tưới tiêu

Dự báo đến cuối vụ Đông Xuân 2018-2019, toàn tỉnh Thừa Thiên- Huế sẽ có hơn 700 ha lúa bị khô hạn. Đây là những diện tích lúa tập trung ở vùng cuối kênh tưới, diện tích lúa nằm ở các hồ đập thủy lợi có dung tích nhỏ, ở vùng gò đồi, vùng cát ven biển thuộc các huyện, thị xã như Nam Đông, A Lưới, Phong Điền, Quảng Điền, Hương Trà, Phú Vang, Phú Lộc.


 Nếu hạn hán kéo dài, Thừa Thiên- Huế sẽ có hơn 3.000 ha lúa bị khô hạn trong vụ Hè Thu năm nay

“Đến vụ Hè Thu năm nay, nếu thời tiết diễn biến như dự báo thì toàn tỉnh sẽ có hơn 3.000 ha lúa tập trung ở vùng không có công trình thủy lợi, không chủ động được nguồn nước tưới tiêu dẫn đến bị khô hạn”, ông Hùng cho hay. Để giải quyết tình trạng khô hạn trước mắt, Sở NN&PTNT tỉnh Thừa Thiên- Huế đã yêu cầu Công ty TNHH NNMTV QLKT công trình thủy lợi tỉnh phối hợp với các địa phương lắp đặt các máy bơm dầu, bơm điện để bơm chuyền nước từ các hồ đập thủy lợi đến các diện tích lúa thiếu nước.

Nguồn: CafeF

Các mô hình chuyển đổi cây trồng trên đất lúa đạt hiệu quả cao

Các mô hình chuyển đổi cây trồng trên đất lúa ở vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên vụ Đông Xuân 2018 – 2019 cho năng suất và hiệu quả cao. Đó là đánh giá của Cục Trồng trọt tại Hội nghị ngành nông nghiệp vừa tổ chức tại Quảng Nam.

Ngày 12/4, tại thành phố Tam Kỳ (Quảng Nam), Bộ NN&PTNT phối hợp với UBND tỉnh Quảng Nam tổ chức Hội nghị sơ kết sản xuất trồng trọt vụ Đông Xuân 2018 - 2019; Triển khai sản xuât vụ Hè Thu, vụ mùa năm 2019 vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Tham dự có có Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Lê Quốc Doanh cùng gần trăm đại biểu đến từ các tỉnh, thành trong khu vực.


Quang cảnh hội nghị

Theo báo cáo của Cục Trồng trọt, diện tích lúa toàn vùng vụ Đông Xuân 2018 – 2019 ước đạt 316.967ha, giảm 4.397ha; năng suất ước đạt 66,14 tạ/ha; sản lượng ước đạt 2.096 nghìn tấn, tăng 18 nghìn tấn so với vụ ĐX 2017 – 2018.


Ông Lê Quốc Doanh, Thứ trưởng Bộ NN&PTNT tham quan cánh đồng mẫu lớn SX giống lúa TBR279 tại xã Đại Thắng, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam

 Về thời vụ, Cục Trồng trọt đã phối hợp với các địa phương triển khai kế hoạch và giải pháp chỉ đạo sản xuất (SX) sớm hơn, bố trí thời vụ gieo sạ phù hợp và tập trung xuống giống nhanh, gọn; chủ động lịch xuống giống linh hoạt cho từng tiểu vùng tùy theo tình hình thực tế của từng địa phương.

Về cơ cấu giống, tập trung sử dụng giống ngắn ngày như: OM6976; KDđb, KD28, ĐV108, PC6, TBR225, TBR36, TBR1, BC15, TH3-3, ML48, ML202, Nhị ưu 838, ANS1, DT45, Thiên ưu 8… Các giống lúa chất lượng cao đã được nhiều địa phương bổ sung vào cơ cấu giống như: HT1, VD20, OM4900, OM5451, OM6162, OM7347, Đài Thơm 8…

 Sử dụng giống ngắn ngày và cực ngắn ngày trong tình hình khô hạn thiếu nước đã măng lại hiệu quả cao, giảm tối thiểu 2 lần tưới (10-12 ngày/vụ).

Về diện tích gieo trồng một số cây màu vụ Đông Xuân 2018-2019, ngô ước đạt 35.567 ha, tăng 2.195 ha; lạc 22.941 ha, tăng 1.992 ha; vừng 109 ha, tăng 26 ha; sắn 47.257 ha, tăng 3.014 ha; mía 25.121 ha, tăng 965 ha; khoai lang 7.708 ha, tăng 2.124 ha; rau các loại 57.572 ha, giảm 502 ha; đậu các loại 12.423 ha, giảm 564 ha.

Trong đó, cây khoai lang tăng đột biến do mùa vụ trước giá khoai lang thương phẩm cao nên bà con nông dân tăng diện tích trồng, đến khi thu hoạch do cung tăng cao làm cho giá khoai lang thương phẩm xuống thấp và tiêu thụ gặp nhiều khó khăn.

Cây màu và cây công nghiệp ngắn ngày luôn được các tỉnh DHNTB và Tây Nguyên quan tâm chỉ đạo phát triển và góp phần quan trọng trong cơ cấu cây trồng của vùng. Ngoài ra cũng từng bước hoàn thiện các kỹ thuật canh tác, sơ chế, tồn trữ, bảo quản, vận chuyển… đạt vệ sinh an toàn thực phẩm góp phần tăng giá trị và lợi nhuận.

Mô hình chuyển đổi cây trồng trên đất lúa có hiệu quả kinh tế cao

Mô hình chuyển đổi canh tác lạc chịu hạn thích ứng với biến đổi khí hậu (BĐKH) và tưới nước tiết kiệm trên đất cát  kém hiệu quả thực hiện tại xã Bình Tân, Hòa Thắng và Hồng Phong, huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận với diện tích 5,5ha. Kết quả mô hình trồng lạc cho thấy năng suất bình quân đạt 23,6 tạ/ha.

Với giá thị trường lạc khô tại thời điểm là 25.000 đồng/kg, trừ các chi phí về đầu tư thâm canh, tổng doanh thu của mô hình trồng lạc là 59 triệu đồng/ha và lãi thuần là 27,430 triệu đồng/ha. Trong khi đó, nếu SX lạc theo cách truyền thống (đối chứng) thì doanh thu chỉ đạt 48,75 triệu đồng/ha và lãi thuần 20, 51 triệu đồng/ha.

Như vậy, sản xuất lạc theo mô hình tưới theo mini-pan bằng béc phun mưa so với đối chứng thì năng suất tăng 21% và lãi thuần tăng 6,92 triệu đồng/ha (tương ứng tăng 33,7%). Bên cạnh đó, việc áp dụng mô hình canh tác lạc tiết kiệm nước theo mini-pan còn sử dụng hiệu quả nguồn nước, lượng nước tưới trong mô hình là 3.800m3/ha/vụ, giảm hơn 21,5% (1.040 m3/ha/vụ) so với đối chứng. Đây là vấn đề rất có ý nghĩa trong điều kiện tài nguyên nước đang ngày càng thiếu hụt như hiện nay tại địa phương.

Tại tỉnh Quảng Nam, các mô hình chuyển đổi trên vùng lúa nước trời như: Lúa ĐX – Mè Xuân Hè (hoặc hè Thu sớm), Lúa ĐX – Sắn; trên vùng đất chủ động nước như: Dưa hấu ĐX - Dưa hấu Xuân Hè – Lúa/Ngô Vụ 3,  Lúa ĐX - Dưa hấu Hè Thu - Ngô vụ 3, Ngô nếp ĐX - Đậu xanh Xuân Hè - Ngô vụ 3, Lúa ĐX - Lạc Hè Thu, Lúa ĐX - Mè Xuân Hè - Ngô vụ 3… lợi nhuận từ cây trồng chuyển đổi cao hơn so với SX lúa trong cùng thời vụ, trên cùng chân đất, cụ thể: cây mè là 11, 57 triệu đồng/ha, cây lạc là 16,83 triệu đồng/ha, cây đậu xanh là 20,8 triệu đồng/ha, trong khi đó lợi nhuận từ SX lúa là 2,868 triệu đồng/ha, thậm chí có nơi như Núi Thành, Tiên Phước bị thua lỗ.

 Tỉnh Bình Định thực hiện nhiều mô hình chuyển đổi cây trồng trên đất lúa. Các cây trồng cạn chuyển đổi đều có lợi nhuận tăng hơn so với trồng lúa như: chuyển đổi từ 2 vụ lúa sang trồng lúa – lạc lợi nhuận tăng khoảng 24 triệu đồng/ha; chuyển đổi sang trồng ngô lai lợi nhuận tăng trên 5 triệu đồng/ha; chuyển đổi sang trồng lạc lợi nhuận tăng trên 28 triệu đồng/ha; chuyển đổi sang trồng vừng lợi nhuận tăng trên 13 triệu đồng/ha; chuyển đổi sang trồng đậu xanh, đậu đen lợi nhuận tăng từ 4 - 12 triệu đồng/ha so với trồng lúa.

Theo đánh giá của Cục Trồng trọt, các mô hình chuyển đổi cây trồng trên đất lúa cho năng suất và hiệu quả cao như: ngô, lạc, vừng, rau đậu các loại… tuy nhiên, việc phát triển nhân rộng mô hình chuyển đổi cây trồng trên đất lúa còn gặp nhiều khó khăn do thiếu sự quy hoạch tập trung, đầu tư hệ thống thủy lợi tưới tiêu nước và các chính sách hỗ trợ chuyển đổi chưa thực sự mạnh để thúc đẩy chuyển đổi.

Ông Lê Trí Thanh, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam phát biểu tại Hội nghị

Ông Lê Trí Thanh, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam cho biết: Quảng Nam đã và đang tạo đột phá về cây dược liệu, ngoài Sâm Ngọc Linh, có Ba kích, Đảng Sâm, Sa nhân và nhiều loài dược liệu quí khác. Từ năm 2016 đến nay tăng gần 200ha/năm. Chuyển đổi từ đất lúa kém hiệu quả sang SX rau màu các loại hàng năm trên 1.000ha. Diện tích liên kết SX lúa giống trên địa bàn tỉnh hơn 3.000ha/năm (trong đó có 300-350ha lúa lai), Liên kết SX giống đậu khoảng 3.00ha/năm, giống ngô khoảng 3.0ha/năm. Hơn 140 cánh đồng lớn diện tích 6.000ha/năm (lúa, ngô, đậu xanh, lạc, ớt, dưa hấu…). Sản xuất rau an toàn (RAT), rau VietGAP, rau hưc cơ đang phát triển nhanh cả về diện tích và sản lượng. Đầu ra của sản phẩm tương đối ổn định, góp phần nâng cáo giá trị gia tăng trên một đơn vị diện tích.


Ông Lê Quốc Doanh, Thứ trưởng Bộ NN&PTNT phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị

Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị, ông Lê Quốc Doanh, Thứ trưởng Bộ NN&PTNT chỉ đạo tiếp tục theo dõi và thu hoạch lúa vụ ĐX, tránh sâu bệnh hại cuối vụ; giao Cục Trồng trọt thành lập Tổ công tác gồm Thủy lợi, BVTV làm việc cụ thể với từng địa phương xác định thời vụ cụ thể. thống nhất khung lịch thời vụ của Cục Trồng trọt xây dựng, nhưng tùy theo từng vùng có lịch thời vụ tùy theo nguồn nước, điều kiện SX của địa phương; cơ cấu giống ngắn và cực ngắn ngày, lượng giống gieo sạ hợp lý. Cần theo dõi diễn biến thời thiết và áo dụng biện pháp tưới nước tiết kiệm, theo dõi chỉ đạo PTSB kịp thời…


Nguồn: iasvn.org

Làm lúa như chơi nhờ cơ giới hóa

Nông dân đánh giá cao mô hình áp dụng mạ khay, cấy máy, bởi những hiệu quả vượt trội đem lại. Thành công bước đầu đã tạo lòng tin để họ tiếp tục tham gia ở những vụ tiếp theo.

Trung tâm Chuyển giao công nghệ và Khuyến nông (Viện Khoa học nông nghiệp Việt Nam) phối hợp với UBND huyện Hải Hậu (Nam Định) và UBND huyện Duy Tiên (Hà Nam) tổ chức tham quan mô hình cánh đồng lớn áp dụng cơ giới hóa đồng bộ trong sản xuất lúa.


Các đại biểu tham quan mô hình cánh đồng lớn tại xã Hải Hưng (huyện Hải Hậu)

Tại Nam Định, mô hình được triển khai trên địa bàn xã Hải Hưng (huyện Hải Hậu) với diện tích sản xuất 55ha, cấy mạ khay máy cấy với giống lúa BT7. Mặc dù, đây là vụ đầu tiên địa phương tổ chức gieo cấy bằng mạ khay, máy cấy với quy mô cánh đồng lớn, nhưng đã chiếm được tình cảm của bà con nơi đây.

Ông Ngô Minh Chiều, Chủ tịch UBND xã Hải Hưng cho hay, mô hình rất có kỳ vọng tại địa phương, đã nâng cao hiệu quả kinh tế, tăng thu nhập. Tiết kiệm giống, giảm chi phí đầu vào; giảm nhân công, cải thiện thu nhập cho bà con, cây lúa sinh trưởng tốt, dàn lúa đẹp, ít sâu bệnh.

“Ngoài hiệu quả kinh tế, mối liên kết giữa 4 nhà đã tạo sự nhận thức và niềm tin của người nông dân trong việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vào SX, giúp bà con nông dân thay đổi được nhận thức trong SX…”, ông Chiều nói.


Những bông lúa chín vàng, chuẩn bị cho thu hoạch

Chỉ tay vào ruộng lúa chín vàng đồng sắp đến ngày thu hoạch, bà Phạm Thị Vân bảo, trước đây, gia đình bà chủ yếu cấy lúa theo phương pháp truyền thống. Song, vụ xuân 2019, được sự hỗ trợ của Trung tâm Chuyển giao công nghệ và Khuyến nông (đơn vị chủ trì Dự án) gia đình bà đã tham gia mô hình cánh đồng lớn thâm canh giống lúa BT7 áp dụng cơ giới hóa đồng bộ.

Bà Vân vui mừng, bước đầu, bà đã thấy được hiệu quả của cánh đồng lớn mang lại như giá thành SX giảm từ 10 – 15%, tăng lợi nhuận trên 20% so với SX truyền thống trước đây, vì vậy gia đình bà tiếp tục đăng ký với HTXNN Kiên Trung, xã Hải Hưng được sử dụng dịch vụ mạ khay, máy cấy trong vụ mùa và các vụ tiếp theo.

Cầm bông lúa trên tay, lão nông Nguyễn Văn Thưởng khoe: “Cấy lúa bây giờ nhàn quá; sử dụng mạ khay, máy cấy chúng tôi làm mà như chơi, bộ rễ lúa lại không bị ảnh hưởng nhiều, mạ bén rễ nhanh và khả năng đẻ nhánh khỏe. Lúa sinh trưởng tốt và cây khỏe. Mặc dù, vừa rồi mưa to, gió lớn nhưng cây lúa không bị đổ. Chắc chắn vụ này, năng suất sẽ cao hơn khoảng 20% so với cấy tay truyền thống.

“Nhờ có mô hình cánh đồng lớn nên chúng tôi đã thấy được lợi ích của việc đem tiến bộ kỹ thuật áp dụng vào đồng ruộng. Mặc dù, vụ này thời tiết có diễn biến bất thường nhưng năng suất vẫn cao”, ông Thưởng phấn khởi.

Tại Hà Nam, ông Lưu Văn Chung, Giám đốc HTX DVNN Châu Giang (huyện Duy Tiên), đơn vị trực tiếp tiếp nhận và triển khai mô hình tại Hà Nam cho biết: Vụ xuân 2019, địa phương thực hiện mô hình cánh đồng lớn sử dụng giống lúa VT-NA6 với quy mô 55ha.


HTX tiếp nhận hỗ trợ khuyến công của dự án (khay làm mạ, bình phun thuốc…) và nhận trách nhiệm tổ chức dịch vụ làm đất, cấy máy cho toàn bộ mô hình.

Các hộ tham gia chỉ việc nhận ruộng chăm sóc và đóng góp đối ứng theo quy định. Mô hình cấy mạ khay, máy cấy nên cây lúa ít sâu bệnh, sinh trưởng phát triển khỏe, đồng đều, năng suất cao, ước đạt khoảng trên 70 tạ/ha.

“Trước đây, bà con chủ yếu cấy tay, hay cấy dày nên dễ bị sâu bệnh hại. Từ khi, mô hình cánh đồng lớn được triển khai tại địa phương, áp dụng những tiến bộ kỹ thuật vào trong SX thì bà con mới được “sáng mắt”.

Phải công nhận rằng, cấy lúa bằng phương pháp mạ khay, máy cấy cho cây lúa rất đẹp, đẻ khỏe. Từ đầu vụ đến cuối vụ bà con chỉ phun thuốc BVTV đúng 1 lần nên tiết kiệm được chi phí cho gia đình”, ông Chung bộc bạch.


Nông dân Nguyễn Văn Hiến (xã Châu Giang, Duy Tiên) vui mừng vì bông lúa đẹp và nhiều hạt

TS. Phạm Văn Dân, Giám đốc Trung tâm Chuyển giao công nghệ và Khuyến nông cho biết: Mục tiêu của mô hình là áp dụng các tiến bộ kỹ thuật về giống, kỹ thuật canh tác, công nghệ làm mạ khay máy cấy. Và, lựa chọn áp dụng cơ giới hóa phù hợp trong SX trên cánh đồng lớn, nhằm giảm chi phí công lao động, giảm diện tích lúa gieo sạ; đặc biệt là có sự liên kết với các doanh nghiệp cung ứng vật tư đầu vào và bao tiêu sản phẩm cho bà con nông dân.

“Năm 2019 là năm thứ 3 thực hiện dự án trên 8 tỉnh của miền Bắc chúng tôi có thể khẳng định mô hình đã đem lại hiệu quả tích cực cho SX lúa. Sử dụng mạ khay, máy cấy giúp giảm chi phí đầu tư, giải phóng công lao động, tăng năng suất và hiệu quả kinh tế cho bà con nông dân…”, ông Dân nhấn mạnh.

Ông Dân kiến nghị, trong thời gian tới, các tỉnh đã triển khai mô hình trong đó có tỉnh Nam Định và tỉnh Hà Nam cần tiếp tục mở rộng mô hình cánh đồng lớn áp dụng cơ giới hóa đồng bộ đặc biệt khâu mạ khay, máy cấy vào SX. Tăng cường công tác tuyên truyền quảng bá liên kết “4 nhà” trong xây dựng mô hình cánh đồng lớn.

Ông Nguyễn Văn Thông,Giám đốc Trung tâm Khuyến nông tỉnh Nam Định cho biết, mô hình phù hợp với xu thế SX nông nghiệp hiện nay, thay đổi dần nhận thức của người dân trong SX, góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy tiến trình cơ giới hóa trên địa bàn tỉnh. Ngoài ra, còn góp phần giải phóng sức lao động, tiết kiệm thời gian và tăng thu nhập cho nông dân.

Nông dân Nguyễn Văn Hiến (thôn Đông Ngoại) thổ lộ, tham gia mô hình cánh đồng lớn mới thấy được hiệu quả lớn. Dịch bệnh ít, không phải phun thuốc BVTV nhiều, tiết kiệm được chi phí, năng suất lại cao.


Nguồn: https://cetdae.org.vn

Giới thiệu Giống lúa J02

Giống lúa thuần J02 có nguồn gốc từ Nhật Bản được Viện Di truyền nông nghiệp nhập nội và tuyển chọn. Giống được công nhận chính thức theo quyết định số 620/QĐ-TT-CLT, ngày 26/12/2013.


1. ĐẶC TÍNH NÔNG SINH HỌC

- Ưu điểm

+ Thời gian sinh trưởng (vụ xuân: 126-127 ngày, vụ mùa: 111-112 ngày). Thích hợp với trà lúa xuân sớm, xuân chính vụ và mùa trung.

+ Kiểu khóm gọn, bộ lá đứng, bông to, hạt xếp xít, trỗ thoát, cấu trúc bông đẹp, giấu bông, tỷ lệ lép thấp, khả năng đẻ nhánh hữu hiệu từ 5-6 dảnh/khóm.

+ Số hạt chắc trên bông trung bình đạt từ 129 đến 135 hạt/bông.

+ Khối lượng 1000 hạt từ 25,5 đến 26,0 gr.

+ Năng suất thực thu đạt 62,0 đến 74,0 tạ/ha.

+ Có khả năng chống chịu với một số sâu bệnh hại và chống chịu rất tốt với nhiệt độ thấp trong vụ xuân (từ 8-100C trong thời gian dài)

+ Cơm ngon với các ưu điểm cơm mềm, thơm, vị đậm, dính vừa, bóng. Kết hợp với một số chỉ tiêu về chất lượng xay xát có thể khẳng định J02 là một giống khá toàn diện cả về năng suất và chất lượng.

- Yếu điểm: Thời gian ngủ nghỉ dài, bắt buộc phải dùng giống chuyển vụ (không được dùng giống của vụ Xuân cho vụ Mùa kế tiếp do tỷ lệ nảy mầm thấp). Sản xuất giống cần phải cách ly không gian và thời gian tránh nhận phấn lai.

2. THỜI VỤ GIEO TRỒNG VÀ YÊU CẦU KỸ THUẬT

Bón phân cân đối, bón thúc sớm, tập chung bón đúng thời ký sinh trưởng của cây để đạt năng suất cao.

- Giống J02 có vỏ trấu dầy nên thời gian ngâm và ủ dài hơn các giống thuộc loài phụ indica.

- Giống lúa J02 khó rụng hạt nên khi gặt xong phải ra hạt ngay (nếu gặt bằng tay) để tránh gẫy gié.

- Là giống thuộc loài phụ japonica nên thời gian trỗ đến chín dài hơn các loại giống thuộc loài phụ indica từ 5 - 7 ngày. Thời điểm thu hoạch muộn hơn các giống lúa indica từ 5 - 7 ngày.  Là giống lúa chất lượng nên sau khi tuốt, thóc phải được phơi dưới nắng nhẹ và nên phơi từ 3 - 4 lần để đạt độ ẩm ≤14% để hạt gạo trong và giữ hương thơm đặc trưng. Không được phơi lâu dưới nắng gắt và làm khô ngay trong thời gian ngắn hạt gạo sẽ bị gãy, vỡ nát khi say xát.

- J02 thích hợp với loại đất vàn cao, vàn hoặc vàn thấp có độ phì từ khá trở lên, chủ động tưới tiêu.

- Thời vụ gieo cấy:

+ Vụ xuân : Gieo 25/12 đến 05/01;  cấy 20/01-30/01 khi mạ 3,5 đến 4 lá

+ Vụ mùa: Gieo 10/06 đến 20/06 có thể gieo vào 10/07 đến 15/07. Tuy nhiên tốt nhất nên gieo ngày 10/06 đến 15/06.

- Ngoài việc gieo mạ dược có thể gieo mạ sân hoặc mạ khay (mạ ném). Chú ý gieo thưa để cho mạ cứng cây, to gan, đanh dảnh, khi cấy nếu gặp thời tiết bất thuận sẽ ít bị chết cây và đảm bảo mật độ.

Theo vaas.org.vn

Giới thiệu giống lúa chất lượng OM4900

Giống lúa thuần OM 4900 đã được lai tạo chọn lọc bởi các cán bộ khoa học tại Bộ môn di truyền chọn giống thuộc Viện Lúa đồng bằng sông Cửu Long (VLĐBSCL). Tác giả là PGS.TS. Nguyễn Thị Lang và GS.TS. Bùi Chí Bửu. Phương pháp lai cổ truyền được áp dụng với giống bố là Jasmine 85 và giống mẹ là C53 (Lemont). Trong quá trình chọn lọc các đời con lai có áp dụng kỹ thuật trợ giúp của dấu chuẩn phân tử (MAS= marker assisted selection) từ năm 2002. Mục đích đặt ra là kết hợp các đặc điểm di truyền cho năng suất cao, mùi thơm và hàm lượng amylose thấp.

OM4900 được công nhận giống  chính thức 2009 tại Quyết định Số 198/QĐ-TT-CLT Ngày 18/06/2009 và Bảo hộ năm 2010: VB44.VN.2010.


* ĐẶC TÍNH NÔNG SINH HỌC

- Ưu điểm

Thời gian sinh trưởng 95-100 ngày (vụ Xuân), 95-100 ngày (vụ Hè Thu).

Chiều cao cây trung bình 100-110cm

Khối lượng 1000 hạt: 29-30 gram, chiều dài hạt gạo 7,0 – 7,3mm.

Hạt gạo đẹp, trong, thon dài, hàm lượng amylose 16,0-16,8%, mùi thơm cấp 1.
Cơm ngon, mềm, dẻo.

Giống phản ứng với đạo ôn (cấp 5), rầy nâu (cấp 3-5), phản ứng trung bình với bạc lá, chịu mặn tốt, chống đổ ngã (cấp 1).

Chịu phèn, mặn 2-3‰, thích hợp vùng đất phèn, phèn mặn, phù sa.

Tiềm năng năng suất 7,0-8,0 tấn/ha.

* Yếu điểm: Hơi nhiễm nhẹ với bệnh đạo ôn.

* LƯU Ý KỸ THUẬT

OM 4900 Lá nhỏ có thời gian sinh trưởng từ 90-95 ngày đối với vụ Hè Thu và Thu Đông, còn về vụ Đông Xuân còn phụ thuộc vào thời tiết và điều kiện canh tác và về mật độ gieo sạ có thể tăng thêm từ 3-5 ngày.

- Chiều cao cây từ 90-95 cm. Chịu phèn mặn từ 4-5‰.

- Đẻ nhánh khỏe, hơi cứng cây, lá cờ thẳng dạng lá hình lòng mo hơi héo, ít nhiễm sâu bệnh, rất dễ canh tác.

- Về phẩm chất gạo vì hạt lúa có vỏ trấu mỏng, hạt gạo dài, trong, cơm thơm và dẽo, đạt tiêu chuẩn xuất khẩu.

- Năng suất từ 7-8 tấn/ ha, nếu chăm sóc đúng theo quy trình và giỏi có thể năng suất lến đến 10 tấn/ ha, nhưng cũng phải đủ về các mặt kỷ thuật như về vùng đất nên tăng hoặc giảm số lượng giống và phân bón để cho thích hợp và vấn đề quan trọng là do thời tiết.

Về kỷ thuật chăm sóc

1. Chăm sóc như các giống khác, nhưng giống OM 4900 Lá Nhỏ này dạng lá hình lòng mo, có màu mở gà “vàng tranh” chứ không xanh như những giống khác, vì lý do này bà con không biết cứ bón phân thật nhiều cho lá xanh thì rất nguy hiểm đặc biệt là UREA.

2. Trước khi sạ bà con nên trục trạt cho đất nhão nhuyễn và trang bằng mặt ruộng, đánh rãnh thoát nước cứ 4-5m là 1 rãnh, đồng thời bón lót phân lân vôi có tác dụng khữ phèn, khữ chua và ngộ độc. Nếu có điều kiện bà con nên phun thuốc cỏ Diệt mầm và xữ lý thuốc trị ốc bưu vàng, đến khi sạ tháo nước ra và tiến hành kéo hàng theo chiều dài của đường thẳng cặp rãnh nước.

3. Đến 4-5 ngày sau khi sạ bà con đưa nước vào với mực nước ít “đủ để ngập mặt ruộng” nhằm để khống chế lúa cỏ lúa nền lên trong đám ruộng.

Đến 8-9 ngày sau khi sạ bà con tháo bỏ hết nước cho khô rồi đến ngày 10-12 ngày sau khi sạ đưa nước vào bón phân lần 1 là UREA 5kg + DAP 5kg + KALI 3kg + Con bò sữa 5kg. Tạo cho cây khỏe giảm tỷ lệ bệnh đầu vụ.

4. Đến 18 - 20 ngày bà  con tháo bỏ hết nước cho khô, tiến hành phun gói Bidamin theo khuyến cáo nhằm giúp cho cây lúa ra chồi khỏe, hạn chế độ dài của thân và lá tạo cho thân cây cứng hơn, tăng số hạt trên bông, hạn chế sự đổ ngã, hạn chế sâu bệnh ở giai đoạn đẻ nhánh đến phân hóa đòng cho đến khi 22-23 ngày bà con tiến hành đưa nước vào tỉa dậm và khử lẩn, qua ngày sau bón phân tiếp lần 2 với liều lượng UREA 7kg + DAP 7kg + HUMIX 1kg đồng thời tiến hành phun thuốc ngừa bệnh cháy lá đầu vụ “nên ngừa hơn trị”, có thể tăng hoặc giảm lượng phân theo từng vùng đất và từng thời điểm mùa vụ.

5. Đến khi 36-38 ngày bà con tháo nước lần nữa cho khô và phun lại gói Bidamin theo khuyến cáo nhằm thúc đẩy sự tạo đòng to, tạo tỷ lệ thụ phấn cho cây sau này, đặc biệt là giúp cho cây có thân ngắn lại và cứng hơn, bộ lá cứng hơn và thẳng đứng, hạn chế được sâu bệnh ở giai đoạn trước và sau khi đòng trổ đến chín, trong thời gian này nên theo dõi lúa đến lúc 42-45 ngày khi lúa  có tim đèn thì đưa nước vào và bón phân đón đòng trong thời gian này cây lúa có màu vàng tranh thì bà con chia làm 2 lần bón phân đón đòng rất hiệu quả:

Lần 1: 42-45 NSKS bón N 4kg + KALI 5kg + Con bò sữa 3kg + Cansibo 3kg + thuốc đặc trị sâu đục thân 1kg.

Lần 2: 48-50 NSKS bón N 2kg + KALI 3kg + Con bò sữa 2kg + Cansibo 2kg.Ý nghĩa của 2 lần bón nhằm hỗ trợ số cây con cho đủ dinh dưỡng cùng cây mẹ. Bà con có thể giảm lượng phân N (UREA) tùy theo màu sắc của lá và tùy theo mùa vụ , khi bón phân xong tiến hành khử lẫn lần 2.

6.  Đến thời điểm này bà con nên kiểm tra bệnh cháy lá, đốm vằn, vàng lá nếu có dấu hiệu thì bà con nên phun ngừa các loại thuốc đặc trị là tốt nhất và có độ an toàn cho cây lúa cao hơn, không nên để có bệnh rồi mới phun.

7. Đến khi lúa chuẩn bị trổ lát đát là từ 60-65 ngày bà con nên tháo bỏ nước cho khô đợi đến khi lúa trổ đưa nước vào cho ngập gò và giữ nước lại phun thuốc trị  vi khuẩn, nấm đạo ôn, lem lép hạt, nhện gié, có thể phun thêm KALI dạng hòa tan và HUMIX cho trổ vào gạo nhanh hơn, đến thời điểm này tiến hành khử lẩn lần 3.

8. Đến khi lúa trổ điều bà con phun thêm thuốc như trên là cho an toàn và không nên phun các chất kích thích như siêu to hạt hoặc GA3 cho lớn hạt, nó sẽ làm hư hạt và nức hạt rất dễ bị đổ ngãn thì thất mùa là cái chắt.

9. Các thông tin liên quan cho lúa giống OM 4900 Lá Nhỏ này như phun thuốc bón phân có thể tùy theo mùa vụ tùy theo địa phương đừng nên lạm dụng phân bón quá mức, đặc biệt là phân UREA. Giống này hơi nhiễm vi khuẩn, thế cho nên bà con nên ngừa vi khuẩn ở 3 giai đoạn 40-45 NSKS, 60-65 NSKS, lần cuối là lúc lúa trổ điều và ngậm sữa “phun theo bộ thuốc đính kèm”. Bà con nên ngừa hơn trị.

Theo vaas.org.vn

Ngân hàng TG đề nghị ĐBSCL giảm diện tích trồng lúa

Vùng đồng bằng nên sản xuất ít gạo hơn để giảm tác động môi trường, đồng thời thúc đẩy sản xuất gạo chất lượng cao và gạo đặc chủng.


Nông dân Bến Tre gặt lúa Nàng Keo, một giống lúa đặc sản có khả năng thích ứng với nước mặn. 

Phần đất còn lại sẽ dành để trồng các loại nông sản có giá trị cao, thích ứng với biến đổi khí hậu. Đó là ý kiến của đại diện Ngân hàng Thế giới (WB) tại VN, đưa ra tại phiên thảo luận chuyên đề “Tái cơ cấu ngành nông nghiệp thích ứng với biến đổi khí hậu vùng ĐBSCL” trong khuôn khổ diễn đàn ĐBSCL năm 2019 diễn ra sáng 18/6 tại TP.HCM. Theo bà Phạm Hoàng Vân – chuyên gia của WB, tăng trưởng sản lượng nông nghiệp ở BĐSCL nói riêng và Việt Nam nói chung thời gian qua đạt được nhờ sử dụng ngày càng nhiều đầu vào với chi phi lớn hơn về môi trường.

Phần lớn tăng trưởng nông nghiệp Việt Nam cho đến nay đều dựa vào mở rộng sản xuất hoặc tăng cường sử dụng đất và các tài nguyên thiên nhiên khác, cũng như sử dụng khá nhiều phân bón và các hóa chất khác trong nông nghiệp. Do đó tăng trưởng nông nghiệp cũng đi kèm tác động xấu về môi trường như phá rừng, hủy hoại nguồn lợi thủy sản, suy thoái đất và ô nhiễm nguồn nước. Nói cách khác, tăng trưởng nông nghiệp Việt Nam dựa khá nhiều vào sức lao động, tài nguyên thiên nhiên và hóa chất trong sản xuất.

Tuy nhiên, tiến bộ về năng suất, sản lượng và xuất khẩu nông nghiệp đã tạo ấn tượng nhiều hơn so với việc tăng hiệu suất, phúc lợi của nông dân và chất lượng sản phẩm. Việt Nam chưa theo kịp các nước trong khu vực các vấn đề liên quan đến năng suất lao động nông nghiệp và năng suất sử dụng nước. Một khoảng cách đang hình thành giữa thu nhập nông nghiệp và phi nông nghiệp, sự bất bình đẳng về thu nhập đang gia tăng ở khu vực nông thôn. Hầu hết sản phẩm nông nghiệp của Việt Nam đều bán ở dạng thô, thường được định vị ở phân khúc chất lượng thấp hoặc trung bình của thị trường quốc tế.

Vì vậy trong tương lai, ngành nông nghiệp ở ĐBSCL phải đảm bảo “tăng giá trị, giảm đầu vào”. Tức là nông nghiệp phải mang lại nhiều lợi ích cho nhà sản xuất, người tiêu dùng và hệ sinh thái bằng cách sử dụng ít đất, nước, lao động, phân bón, hóa chất và năng lượng, đồng thời giảm phát thải khí nhà kính, ô nhiễm và chất thải. Điều này sẽ đòi hỏi sự thay đổi trong sử dụng đất, sản xuất, và tổ chức hiệu quả chuỗi giá trị và bán các sản phẩm theo nhu cầu của thị trường.

Nông nghiệp Việt Nam sẽ cần phải từ bỏ hình ảnh là một nhà cung cấp hàng hóa giá rẻ (có chất lượng thay đổi hoặc không chắc chắn), để hướng tới một vị thế vững chắc trên thị trường của một nhà cung cấp đáng tin cậy các sản phẩm chất lượng cao, an toàn, được sản xuất và phân phối một cách bền vững.

Tại hội thảo, GS Võ Tòng Xuân cũng cho rằng cần quyết liệt tái cơ cấu ngành nông nghiệp ở ĐBSCL theo hướng giảm diện tích trồng lúa kém hiệu quả, sang các loại cây trồng và sản phẩm nông nghiệp giá trị cao. Diện tích lúa gạo còn lại tập trung vào các loại có giá trị cao, đặc sản. Đồng thời chính sách của nhà nước cần thu hút hơn nữa các doanh nghiệp tham gia đầu tư vào vùng này bởi doanh nghiệp, người thu mua đầu ra cho nông dân là thành phần quan trọng nhất của chuỗi giá trị nông nghiệp.


Theo Trần Mạnh/Tuổi Trẻ

Nghiên cứu thành công giống lúa BC15 kháng đạo ôn

Ông Trần Mạnh Báo, Chủ tịch HĐQT, TGĐ Cty CP Tập đoàn ThaiBinh Seed cho biết, sau 4 năm nghiên cứu, đơn vị đã tạo ra giống lúa BC15 bằng phương pháp lai Backcross chuyển gen.

Thứ trưởng Bộ NN-PTNT Lê Quốc Doanh cùng đoàn công tác mới đây đã về thăm Viện nghiên cứu cây trồng (thuộc ThaiBinh Seed). Tại đây, ông Trần Mạnh Báo cho biết, vụ xuân 2019, đơn vị đã khảo nghiệm 679 giống lúa, ngô và rau màu các loại. Trong đó có 399 giống lúa, 236 giống ngô, 44 giống rau màu.


Cũng tại Viện nghiên cứu này, ThaiBinh Seed đang cho khảo nghiệm 10 giống lúa triển vọng như TBR888, TBR89, TBR87, TBR279… Mới đây nhất, giống lúa TBR279 đã được công nhận là giống Quốc gia năm 2019, là giống lúa cảm ôn, thích ứng rộng, đẻ nhánh khoẻ, chịu thâm canh, thích hợp chân đất vàn, vàn cao. Đặc biệt, TBR279 có thời gian sinh trưởng ngắn: Miền Bắc, vụ xuân từ 120 – 125 ngày, vụ mùa từ 95 – 100 ngày. Năng suất trung bình 60 – 65 tạ/ha, thâm canh tốt đạt trên 70 tạ/ha.

Giống lúa này chống chịu bệnh đạo ôn, bạc lá và rầy nâu ở mức nhẹ. Tỷ lệ gạo lật đạt 76 – 80%. Hạt gạo trắng, trong, cơm mềm, vị đậm và có mùi thơm. Bên cạnh những giống lúa trên, sau 4 năm nghiên cứu, ThaiBinh Seed cũng cho ra đời giống lúa BC15 kháng đạo ôn bằng phương pháp chuyển gen. Giống vẫn giữ nguyên các đặc tính tốt của giống nguyên bản, đáp ứng mục tiêu chọn tạo về năng suất, chất lượng gạo và khả năng chống chịu sâu bệnh.

Vụ ĐX vừa qua, ThaiBinh Seed đã triển khai khảo nghiệm và SX giống lúa BC15 kháng đạo ôn tại nhiều tỉnh như Yên Bái, Hải Dương, Thái Bình, Thanh Hoá, Nghệ An, Bình Định… “Qua theo dõi, trong điều kiện áp lực về bệnh đạo ôn, giống BC15 kháng đạo ôn vẫn sinh trưởng tốt và cho năng suất cao. Chúng tôi sẽ tiến hành mở rộng giống lúa này để giúp người nông dân tiếp cận, SX có hiệu quả”, ông Báo khẳng định.

Theo nongnghiep.vn

Không có giống kháng sâu bệnh, đừng mong làm gạo hữu cơ!

Tại hội thảo giới thiệu tiến bộ kỹ thuật mới trong lĩnh vực trồng trọt - BVTV do Viện KHNN Việt Nam (VAAS) tổ chức ngày 30/5, nhiều ý kiến cho rằng: SX lúa gạo hữu cơ khó khả thi nếu không có các giống lúa chống chịu, kháng sâu bệnh.

Với kinh nghiệm gần 30 năm trong nghề chế biến và kinh doanh lúa gạo, bà Bùi Thị Hạnh Hiếu, GĐ Cty CP Kinh doanh chế biến hàng nông sản Bảo Minh (Hà Nội) cho biết: Hiện nay, Cty đang kinh doanh khoảng gần 40 loại gạo khác nhau, trải dài trên phạm vi cả nước, trong đó chiến lược của Cty là đi vào các giống lúa bản địa, lúa đặc sản chất lượng cao như Xi dẻo, tám Điện Biên, tám xoan Hải Hậu, Tú Lệ, Séng Cù, Tám Thái đỏ, Tám Điện Biên, Nếp cái Hoa vàng, Nếp nương, Nếp Cẩm...

Hiện gạo của Cty đã được đưa vào phân phối tại nhiều hệ thống như Big C, Metro, Lotte mart, Co.oop mart, Vinmart, Hiway, AEON…


Bảo Minh cũng đã và đang tổ chức quy hoạch các vùng nguyên liệu đảm bảo chỉ tiêu về organic, nguồn nước sạch, đất không bị ô nhiễm, gene giống bản địa lâu đời...

Để làm được điều đó, giai đoạn 2015 - 2018, Bảo Minh đã làm sạch, “thải độc” đất (bỏ hoang 3 năm liên tục không canh tác), dự đến 2020 sẽ có được sản phẩm gạo hữu cơ XK theo tiêu chuẩn EU, đến 2023 có những cánh đồng mẫu lớn đáp ứng theo yêu cầu của đối tác nước ngoài...

Khát vọng lớn, tuy nhiên điều mà bà Hiếu lo lắng, đó là khâu tổ chức SX cho nông dân tại các vùng lúa gạo đặc sản hiện nay theo hướng hữu cơ đang vô cùng nan giải.

“Ngay tại các vùng lúa gạo đặc sản như Séng Cù, tám Điện Biên, Tú Lệ... ở miền núi xa xôi, hiện nay nông dân sử dụng thuốc BVTV và đặc biệt là thuốc trừ cỏ vô cùng khủng khiếp. Vì thế khi đưa gạo đi xét nghiệm thì gần như không lô nào đạt yêu cầu về dư lượng”, bà Hiếu lo ngại.

Cũng theo bà Hiếu, thời gian qua, với định hướng SX lúa gạo hữu cơ, Cty đã phải hợp tác với Trung tâm Chuyển giao công nghệ và Khuyến nông (thuộc VAAS) để hỗ trợ cán bộ kỹ thuật trong việc tập huấn, chuyển giao các quy trình SX lúa gạo theo hướng hữu cơ, nhất là các giải pháp canh tác như IPM, SRI... nhằm kiểm soát và hạn chế tối đa việc sử dụng thuốc BVTV.

Tại vùng lúa đặc sản tám xoan Hải Hậu (Nam Định), thời gian qua, Trung tâm Chuyển giao công nghệ và Khuyến nông cũng đã phối hợp với nhiều đơn vị, HTX, trực tiếp cử cán bộ kỹ thuật phối hợp với các HTX nhằm tăng cường tập huấn, chuyển giao các quy trình SX lúa hàng hóa, chất lượng cao theo hướng hữu cơ, có truy xuất nguồn gốc, gắn với tổ chức tiêu thụ.

Ông Hà Minh Đức, Giám đốc HTX Sản xuất - Dịch vụ nông nghiệp Toàn Thắng (xã Hải Toàn, huyện Hải Hậu) cho biết: Với sự hỗ trợ chuyển giao quy trình kỹ thuật của Trung tâm Chuyển giao công nghệ và Khuyến nông, HTX đã bắt tay xây dựng vùng SX lúa tám xoan đặc sản theo hướng hữu cơ từ năm 2018.

Đến nay, HTX đã quy hoạch (cách biệt với vùng SX thông thường), đưa vào SX hơn 30 mẫu (hơn 10 ha) lúa tám xoan hữu cơ.

Sản phẩm gạo của HTX đã được dan tem truy xuất nguồn gốc, phân phối cho hệ thống siêu thị tại 4 thành phố lớn là Hà Nội, Hải Phòng, TP. HCM và Vũng Tàu.

Giá gạo tám xoan hữu cơ trung bình đạt trên 100 nghìn đồng/kg, gạo Bắc thơm 7 trung bình 27 nghìn đồng/kg và luôn “cháy hàng”.

Mặc dù vậy, khó khăn lớn nhất của HTX, đó vẫn là việc áp dụng tiêu chuẩn SX theo hướng hữu cơ đòi hỏi rất nghiêm ngặt, đặc biệt là sâu bệnh...

TS Hà Quang Dũng, GĐ Trung tâm Khảo kiểm nghiệm giống, sản phẩm cây trồng quốc gia cho rằng: Hiện nay, diễn biến thời tiết ngày càng thất thường, khó lường, nguy cơ nhiều loại sâu bệnh trên lúa vì vậy ngày càng nguy hiểm. Điển hình là vụ ĐX 2019, ít năm nào bệnh bạc lá lại bùng phát bất thường như vụ ĐX năm nay. Vì vậy, việc nghiên cứu, chọn tạo các giống lúa có khả năng chống chịu tốt, kháng được với sâu bệnh phải là yêu cầu tiên quyết nếu muốn SX lúa gạo theo hướng hữu cơ.

Theo nongnghiep.vn

Khuyến khích nông dân áp dụng '1 phải, 5 giảm'

Theo các chuyên gia nông nghiệp, việc giảm lượng sử dụng giống gắn với thực hiện đồng bộ kỹ thuật “1 phải 5 giảm” không chỉ giúp nông dân giảm được chi phí SX mà còn góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng để XK.

Thời gian qua, được sự hỗ trợ của Viện Nghiên cứu lúa Quốc tế (IRRI)  thông qua dự án Chuyển đổi nông nghiệp bền vững (VnSAT), Ban Quản lý dự án VnSAT Trung ương và Sở NN-PTNT TP. Cần Thơ đã hỗ trợ nông dân trồng lúa áp dụng kỹ thuật “1 phải, 5 giảm” và thực hiện giảm lượng sử dụng giống bằng nhiều phương thức xuống giống khác nhau.


Cụ thể, như sạ tay, sạ bằng dụng cụ kéo hàng, máy phun hạt và cấy máy. Các mô hình này dù mật độ sạ thấp, từ 43 - 130kg lúa giống/ha, nhưng hiệu quả SX rất tốt. Từ đó, nông dân có sự so sánh và lựa chọn mô hình giảm giống phù hợp với điều kiện SX thực tế tại địa phương.

Nông dân Nguyễn Đức Tân ở ấp Thạnh Lộc, xã Trung Thạnh, huyện Cờ Đỏ thực hiện các biện pháp giảm giống và áp dụng “1 phải, 5 giảm” cho 1,3ha lúa của mình trong vụ ĐX và HT 2019.

Ông Tân cho biết: Hai vụ lúa vừa qua gia đình thực hiện giảm lượng giống gieo sạ bằng phương pháp cấy máy chỉ 6kg/công. Kết quả lúa đạt năng suất cao và chất lượng rất tốt hơn nhiều so với trước đây sử dụng tới 22kg lúa giống/công (sạ tay).

Ông Võ Văn Sĩ có 16 công lúa tại ấp Thạnh Lộc, xã Trung Thạnh, huyện Cờ Đỏ cho biết, áp dụng kỹ thuật  “1 phải 5 giảm” vào SX lúa là sử dụng giống xác nhận và giảm giống, phân bón, thuốc BVTV, bơm tưới nước phù hợp để tiết kiệm nước và giảm thất thoát sau thu hoạch.

"Tôi đã giảm lượng giống gieo sạ từ 20kg/công xuống chỉ còn 10 - 11kg/công và lượng sử dụng phân bón cũng giảm từ 60 -70kg/công xuống còn 50kg/công, số lần phun thuốc BVTV cũng giảm từ 5 lần xuống còn 2 lần. Đặc biệt, việc thực hiện sạ thưa giúp cây lúa khỏe, cứng cây, ít bị sâu bệnh, ít đổ ngã và tăng hiệu quả sử sụng phân bón", ông Sĩ nói.

Bà Phạm Thị Minh Hiếu, Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và BVTV cho biết, dự án VnSAT triển khai ở các địa phương SX lúa trọng điểm như Cờ Đỏ, Vĩnh Thạnh, Thới Lai và quận Thốt Nốt. Thời gian qua, nông dân tại mô hình cánh đồng lớn ở các địa phương này đã được tăng cường tập huấn, hỗ trợ để thực hiện giảm giống gieo sạ và áp dụng hiệu quả các giải pháp kỹ thuật tiên tiến vào SX lúa.

Được sự hỗ trợ của IRRI thông qua dự án VnSAT, Chi cục cũng đã thí nghiệm so sánh các phương thức xuống giống và áp dụng “1 phải 5 giảm” trong cánh đồng lớn tại xã Trung Thạnh và Thạnh Phú, huyện Cờ Đỏ vụ ĐX 2018-2019 và HT 2019 nhằm có cơ sở để đưa ra các khuyến cáo phù hợp cho nông dân, cũng như thúc đẩy nhân rộng các phương thức và mô hình hiệu quả.

Theo nongnghiep.vn

Nông nghiệp Việt Nam đối mặt 5 thách thức năm 2019

Phát biểu tại Diễn đàn tháo gỡ khó khăn cho nông sản Việt Nam năm 2019, Bộ trưởng Bộ NN-PTNT Nguyễn Xuân Cường lo lắng cho biết, có 5 thách thức mà năm nay chúng ta sẽ phải đối mặt.

Năm 2018, xuất khẩu của nông lâm thủy sản Việt Nam đạt kỷ lục với hơn 40 tỷ USD, nhưng trong 2 tháng đầu năm 2019 lại đang đối mặt với những khó khăn, sụt giảm kim ngạch so với cùng kỳ năm ngoái. Trong khi tại thị trường nội địa, nhiều mặt hàng đang giảm giá, đầu ra khó khăn.

Vì vậy, sáng nay 5-3 tại Hà Nội, Bộ NN-PTNT và Bộ Công thương đã phối hợp tổ chức diễn đàn tìm kiếm giải pháp tháo gỡ khó khăn, tiếp sức sản xuất và thúc đẩy xuất khẩu nông lâm thủy sản cho năm 2019, với sự chủ trì của lãnh đạo Bộ NN-PTNT và Bộ Công thương. 
Theo Bộ trưởng Bộ NN-PTNT Nguyễn Xuân Cường, trong bối cảnh trong nước và quốc tế có nhiều thuận lợi và khó khăn đan xen, năm 2019 được đánh giá là năm rất khó khăn với sản xuất và tiêu thụ nông sản.
Thứ nhất, nông nghiệp Việt Nam chủ yếu vẫn sản xuất nhỏ, phân tán nên chưa đáp ứng được yêu cầu về sản xuất hàng hóa quy mô lớn và tiêu chuẩn cao từ thị trường quốc tế.

Thứ hai, thách thức, nguy cơ từ tác động của biến đổi khí hậu, môi trường, dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất trong nước và tình hình cung cầu nông sản.
Thứ ba, thị trường đầu ra cho nông sản gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng của tăng trưởng kinh tế thế giới 2019 dự báo giảm và các nước trên thế giới đều quay lại tập trung đầu tư cho phát triển nông nghiệp, nên các mặt hàng nông sản Việt Nam phải cạnh tranh gay gắt trong xuất khẩu.
Thứ tư, các nước nhập khẩu nông sản lớn của Việt Nam như Mỹ, EU, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc… đều gia tăng bảo hộ hàng hóa nông sản thông qua các tiêu chuẩn về quản lý chất lượng và an toàn vệ sinh thực phẩm, yêu cầu truy xuất nguồn gốc.
Thứ năm, xung đột thương mại giữa Hoa Kỳ - Trung Quốc, những bất ổn xung quanh vấn đề Brexit, những bất ổn địa chính trị trên thế giới cũng ảnh hưởng tới việc xuất khẩu các mặt hàng nông sản của Việt Nam.
Tuy nhiên, người đứng đầu Bộ NN-PTNT cho rằng, năm 2019 là năm có ý nghĩa quan trọng, bứt phá để hoàn thành Kế hoạch 5 năm 2016 – 2020 đối với ngành nông nghiệp. Đảng, Quốc hội và Chính phủ giao chỉ tiêu phát triển ngành đều cao hơn năm 2018 như: tốc độ tăng trưởng GDP trên 3%, giá trị sản xuất trên 3,11%; kim ngạch xuất khẩu trên 43 tỷ USD. 
Do đó, diễn đàn ngày 5-3 là sự kiện để đánh giá kết quả thực hiện các giải pháp thúc đẩy sản xuất gắn với tiêu thụ nông sản năm 2018 và bàn các giải pháp triển khai trong năm 2019. Thúc đẩy hoạt động liên kết sản xuất gắn với chế biến, tiêu thụ nông sản theo chuỗi giá trị tại các vùng, địa phương trọng điểm về phát triển sản xuất nông nghiệp. Trao đổi kinh nghiệm trong nước và quốc tế trong việc triển khai các giải pháp đột phá phát triển sản xuất gắn với tiêu thụ nông sản; thúc đẩy các hoạt động giao lưu, xúc tiến đầu tư, thương mại, quảng bá thương hiệu, sản phẩm nông sản giữa các địa phương, hiệp hội, doanh nghiệp nhằm thu hút đầu tư vào phát triển sản xuất theo quy mô hàng hóa lớn gắn với chế biến và tiêu thụ nông sản theo chuỗi.
Để đạt được mục tiêu đề ra, Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường cho biết: “Bộ sẽ tiếp tục triển khai mạnh mẽ cơ cấu lại ngành nông nghiệp. Phát triển cơ cấu sản xuất theo 3 trục sản phẩm chủ lực: sản phẩm chủ lực quốc gia, sản phẩm chủ lực cấp tỉnh và nhóm sản phẩm là đặc sản địa phương gắn với chỉ dẫn địa lý”.
Bộ NN-PTNT cũng cam kết sẽ tiếp tục đổi mới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất, xây dựng các vùng nguyên liệu sản xuất tập trung, đẩy mạnh liên kết phát triển tổ hợp tác, HTX. Thu hút đầu tư doanh nghiệp tư nhân, xây dựng các mô hình theo chuỗi, khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư xây dựng các chuỗi siêu thị, cửa hàng tiện ích, các chợ... để thúc đẩy tiêu thụ trong nước.
Nâng cao năng lực chế biến nông sản, bảo quản, đóng gói, bao bì, nhãn mác để nâng cao giá trị sản phẩm. Thúc đẩy nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng KHCN, phát triển nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp hữu cơ là những giải pháp quan trọng. 
Phải xử lý nghiêm các hành vi gian lận, ảnh hưởng đến chất lượng hàng hóa nông sản, nhằm giữ uy tín cho hàng hóa nông sản của Việt Nam cả thị thị trường trong nước và quốc tế. 
Theo http://www.sggp.org.vn